Giá cao su trong nước hôm nay 23/9/2026
Trong nước, giá cao su tại các doanh nghiệp lớn không có thay đổi so với hôm qua. Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Giá cao su thế giới hôm nay 23/9/2026
Kết thúc phiên giao dịch ngày 22/9, tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) tăng 0,04 baht lên mức 92,21 baht/kg. Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), giá cao su kỳ hạn tháng 10 tăng 180 nhân dân tệ (1%) lên 18.175 nhân dân tệ/tấn. Thị trường cao su kỳ hạn tại Nhật Bản tiếp tục đóng cửa nghỉ lễ trong ngày 22/9, khi nước này bước vào kỳ nghỉ Silver Week còn kéo dài đến 23/9.
Theo bảng giá cao su vật chất châu Á của Reuters ngày 22/9, giá cao su tấm xông khói RSS3 của Thái Lan ở mức 92,25 baht/kg, cao su khối STR20 ở mức 83,66 baht/kg và mủ latex loại 60% (dạng bulk) ở mức 60,1 baht/kg, trong khi cao su tiêu chuẩn Malaysia SMR 20 được chào ở mức 2,48 USD/kg.
Trên thị trường Trung Quốc, theo dữ liệu của SunSirs, giá cao su thiên nhiên từ đầu tháng 9 tăng trước rồi giảm sau và dao động trong biên độ. Tính đến ngày 20/9, giá cao su thiên nhiên tại nước này ở mức khoảng 18.150 nhân dân tệ/tấn, tăng 0,14% so với mức 18.125 nhân dân tệ/tấn hồi đầu tháng, với đỉnh trong kỳ là 18.866 nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng cao su chủ lực trên sàn Thượng Hải từng lên tới 19.810 nhân dân tệ/tấn - mức cao nhất gần hai năm - trước khi lùi về quanh 18.670 nhân dân tệ/tấn trong bối cảnh giằng co giữa bên mua và bên bán.

Tồn kho tại cảng cũng tiếp tục giảm. Tính đến ngày 13/9, tổng lượng cao su lưu kho tại khu Thanh Đảo và kênh thương mại thông thường đạt 603.200 tấn, giảm 15.800 tấn so với tháng trước, phản ánh xu hướng tiêu thụ diễn ra chậm và mức tồn kho giao ngay nội địa ở mức thấp. Bên cạnh đó, giá butadien tăng đẩy chi phí cao su tổng hợp lên cao, khiến hoạt động mua thay thế ở khâu hạ nguồn gia tăng và hỗ trợ thêm cho giá cao su thiên nhiên.
Trong một diễn biến liên quan, tính đến ngày 11/9, tỷ lệ vận hành của các nhà máy lốp bán thép Trung Quốc đạt 65,53%, giảm 7,93% so với cùng kỳ năm ngoái, còn tỷ lệ này ở nhóm lốp toàn thép là 63,53%, giảm 2,06%. Số ngày quay vòng tồn kho lần lượt là 44,7 ngày với lốp bán thép và 36,4 ngày với lốp toàn thép, cho thấy nhu cầu từ mảng xe thương mại và xe khách còn yếu.
Theo SunSirs, dù các nhà sản xuất lốp đồng loạt phát thông báo tăng giá từ 2 - 5%, chi phí nguyên liệu cao vẫn bào mòn biên lợi nhuận, khiến nhà máy chỉ mua đủ dùng và ít mặn mà với việc tích trữ, khiến tâm lý mùa cao điểm diễn biến kém kỳ vọng.
Trước đó, trong báo cáo thị trường công bố ngày 21/9, Japan Exchange Group (JPX) cho biết giá cao su kỳ hạn trên các sàn lớn đều giảm trong tuần kết thúc ngày 18/9, khi hoạt động chốt lời và thanh lý trạng thái mua diễn ra sau nhịp tăng nóng trước đó. Cũng theo JPX, lo ngại về nguồn cung liên quan tới thời tiết đã dịu bớt khi tác động của hạn hán và hiện tượng El Nino suy yếu, trong khi mùa mưa dự kiến đến trong những tuần tới.
Về nguồn cung, Hiệp hội Các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC) dự báo sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu năm 2026 đạt 15,32 triệu tấn trong khi tiêu thụ ở mức 15,6 triệu tấn, tương ứng mức thiếu hụt 280.000 tấn trong cả năm. Dù Đông Nam Á đã bước vào mùa cao điểm khai thác, mưa kéo dài làm gián đoạn hoạt động cạo mủ; cùng với tình trạng vườn cây già cỗi tại Thái Lan và dịch bệnh tại Indonesia, lượng nguyên liệu đưa ra thị trường thấp hơn kỳ vọng.