
Sau vụ thu hoạch, những cánh đồng dứa ở Ngọc Liên không chỉ còn lại gốc cây và đất chuẩn bị cho vụ mới. Một lượng lớn lá dứa dài, nhiều xơ nằm lại trên ruộng. Trước đây, người dân thường băm nhỏ, vùi xuống đất, đốt hoặc tìm cách xử lý nhanh để làm đất. Chiếc lá khi ấy gần như không được tính vào giá trị của cây dứa.
Ngọc Liên hiện có khoảng 1.200 ha dứa. Trên toàn tỉnh, diện tích dứa gần 4.000 ha, mỗi năm phát sinh hàng chục nghìn tấn lá sau thu hoạch. Một nguồn phụ phẩm lớn như vậy, nếu chỉ xem là phần phải xử lý, thì giá trị của cây trồng gần như dừng lại ở quả.

Đỗ Đồng Tâm, Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp và Giống cây trồng Đồng Tâm, bắt đầu nghĩ khác về những chiếc lá ấy từ năm 2024. Qua một lớp tập huấn nông dân, anh tiếp cận mô hình sản xuất sợi từ lá dứa và xử lý phần bã thành phân hữu cơ. Từ ý tưởng ban đầu, HTX bắt tay thử nghiệm, rồi đầu tư máy móc để tách xơ, từng bước tìm cách biến thứ vốn bị bỏ lại trên đồng thành nguyên liệu.
Những ngày đầu không dễ dàng. Theo anh Tâm, HTX từng lỗ liên tục do máy móc chưa phù hợp, chưa có kinh nghiệm lựa chọn loại lá có tỷ lệ xơ cao và chưa biết xử lý thế nào để sợi sạch, đạt yêu cầu. Có nguyên liệu chưa đồng nghĩa với có sản phẩm; giữa chiếc lá ngoài đồng và sợi tơ bán được trên thị trường là cả một quá trình thử nghiệm và điều chỉnh.

Đến nay, HTX thu mua lá dứa của người dân với giá khoảng 600–800 đồng/kg, đồng thời xây dựng vùng dứa MD2 gần 5 ha để chủ động một phần nguyên liệu. Lá sau khi thu gom được đưa về đánh bỏ phần thịt, rửa, phơi rồi tiếp tục xử lý để tạo thành sợi. Để có 1 kg tơ khô cần hàng chục kg lá tươi; sản phẩm sợi hiện được các doanh nghiệp liên kết thu mua với giá khoảng 160.000–190.000 đồng/kg.
Theo thống kê, mỗi năm nước ta phát sinh khoảng:
159 triệu tấn phế phụ phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản.
90 triệu tấn phụ phẩm từ cây trồng sau thu hoạch.
42,8 triệu tấn trong đó là rơm lúa.
52,2% phụ phẩm cây trồng được thu gom, tái sử dụng.
Giá trị mới vì thế không nằm sẵn trong chiếc lá. Nó được tạo ra qua từng công đoạn: người dân thu gom và bán lá, HTX sơ chế và tách xơ, doanh nghiệp tiếp tục sử dụng sợi làm nguyên liệu cho các sản phẩm dệt may. Phần bã sau khi tách xơ lại được ủ với men vi sinh để làm phân hữu cơ, đưa trở lại phục vụ sản xuất.
Từ một phụ phẩm, một chuỗi giá trị bắt đầu hình thành. Quả dứa vẫn là sản phẩm chính, nhưng cây dứa không còn kết thúc giá trị sau khi quả được thu hoạch. Lá có thêm một đầu ra, bã có thêm một công dụng, còn HTX có thêm một hoạt động sản xuất gắn với vùng nguyên liệu sẵn có.
Điều đáng nói hơn là mô hình này không đòi hỏi mở rộng thêm đất. Giá trị được tìm kiếm ngay trên phần nguyên liệu vốn đã tồn tại trong quá trình sản xuất. Với Thanh Hóa, nơi có gần 4.000 ha dứa và hàng chục nghìn tấn lá phát sinh mỗi năm, khoảng trống đó không phải nhỏ.

Lá dứa là một ví dụ rõ về một phần giá trị từng bị bỏ lại sau thu hoạch. Nhưng trên đồng ruộng và trong các cơ sở chế biến ở Thanh Hóa, còn rất nhiều loại phụ phẩm khác đang chờ một cách sử dụng phù hợp.

Lê Duy Hoàng, nhà sáng lập FUWA BIOTECH, lựa chọn vỏ dứa làm nguyên liệu cho một hướng sản xuất khác. Vỏ dứa được thu gom từ các cơ sở chế biến, sau đó đưa vào quy trình sử dụng công nghệ enzyme để sản xuất các sản phẩm làm sạch. Với cách làm này, phần nguyên liệu vốn thường đi thẳng vào khâu xử lý chất thải được đưa trở lại một quy trình có sản phẩm và thị trường.
Rơm rạ cũng đang được thu gom để làm viên mồi nhóm lửa. Quy mô hiện chưa lớn, nhưng cách làm cho thấy một hướng khác đối với phụ phẩm sau vụ gặt: thay vì đốt hoặc bỏ lại trên đồng, rơm được tập hợp, xử lý và tạo thành một sản phẩm có người sử dụng.
Ở những vùng có nhiều cơ sở chế biến gỗ keo như Như Thanh, Như Xuân và Thường Xuân cũ, ông Lang Văn Tằm, Phó Giám đốc Công ty TNHH Văn Lang, tận dụng vỏ keo và các phần phế phẩm phát sinh từ quá trình bóc, băm gỗ để sản xuất viên nén sinh khối. Những thứ có giá trị thấp ở đầu quá trình chế biến được đưa sang một quy trình khác, trở thành nhiên liệu.

Các mô hình khác nhau về nguyên liệu, công nghệ và sản phẩm đầu ra, nhưng đều đặt ra cùng một câu hỏi là sau khi sản phẩm chính được lấy đi, phần còn lại có thể làm gì?
Câu hỏi ấy tưởng đơn giản nhưng lại liên quan trực tiếp đến cách tổ chức sản xuất. Một loại phụ phẩm chỉ có thể trở thành nguyên liệu khi có người thu gom, có nơi tiếp nhận, có công nghệ xử lý và quan trọng hơn là có thị trường cho sản phẩm cuối cùng. Nếu thiếu một mắt xích, nguồn nguyên liệu dù lớn cũng rất khó trở thành hàng hóa.
Đó là lý do không nên nhìn kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đơn thuần là câu chuyện tận dụng chất thải. Phần khó hơn nằm ở chỗ tạo ra một thị trường cho những thứ trước đây chưa được coi là hàng hóa.

TS Nguyễn Lan Hương, giảng viên Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng phát triển nông nghiệp xanh không thể chỉ dựa vào công nghệ mà còn phụ thuộc vào con người, vào sự thay đổi trong cách sử dụng tài nguyên. Khi người sản xuất bắt đầu tính đến giá trị của những phần còn lại sau thu hoạch, đó cũng là lúc tư duy về hiệu quả sản xuất thay đổi.
Với cách nhìn này, một hecta dứa không chỉ được tính bằng số quả thu hoạch và doanh thu từ quả. Nếu lá được thu gom để làm sợi, bã được xử lý thành phân hữu cơ, giá trị của diện tích sản xuất được tính thêm từ những phần trước đây không mang lại thu nhập.
Tương tự, giá trị của một cơ sở chế biến gỗ không chỉ nằm ở sản phẩm chính. Phần vỏ, mùn cưa hay gỗ vụn nếu có đầu ra ổn định vẫn có thể trở thành nguyên liệu cho sản xuất năng lượng. Một mùa lúa cũng không nhất thiết kết thúc ở hạt thóc nếu rơm rạ còn có thể đi vào một quy trình sản xuất khác.

Thanh Hóa có quy mô sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi lớn. Cùng với sản phẩm chính, mỗi năm một lượng lớn rơm rạ, trấu, thân lá cây trồng, phụ phẩm chăn nuôi, vỏ cây và phế phẩm từ chế biến gỗ được tạo ra. Nguồn nguyên liệu ấy đủ lớn để hình thành nhiều hướng sản xuất, từ phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi đến nhiên liệu sinh khối và nguyên liệu cho công nghiệp.

Nhưng nguồn nguyên liệu lớn mới chỉ là điều kiện đầu tiên. Rơm rạ nằm rải rác trên đồng ruộng không thể tự trở thành hàng hóa. Lá dứa muốn trở thành sợi phải được thu gom đúng thời điểm, sơ chế đúng kỹ thuật. Phế phẩm gỗ muốn trở thành nhiên liệu phải có cơ sở tiếp nhận, máy móc xử lý và đầu ra ổn định.
Thực tế từ các mô hình đang triển khai cho thấy, điểm nghẽn không hẳn nằm ở việc Thanh Hóa thiếu phụ phẩm, mà ở khả năng tổ chức chúng thành một nguồn nguyên liệu ổn định. Người dân cần biết bán cho ai; HTX cần biết sản xuất theo tiêu chuẩn nào; doanh nghiệp cần bảo đảm được nguồn cung và thị trường. Khi những mối quan hệ đó chưa đủ chặt, mô hình rất khó đi xa khỏi quy mô thử nghiệm.
Theo Trịnh Văn Chất, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thanh Hóa, lượng phụ phẩm phát sinh từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi trên địa bàn tỉnh rất lớn. Một phần đã được tận dụng, nhưng vẫn còn nhiều loại chưa được khai thác hiệu quả, nhất là những phụ phẩm phân tán, khó thu gom hoặc nằm xa cơ sở chế biến.

Theo ông Chất, phụ phẩm muốn trở thành nguyên liệu phải có người thu gom, nơi tiếp nhận, công nghệ xử lý và thị trường cho sản phẩm đầu ra. Vì vậy, đây không còn là vấn đề xử lý chất thải đơn thuần mà phải được nhìn dưới góc độ kinh tế, với sự tham gia của doanh nghiệp, HTX và người sản xuất trong cùng một chuỗi liên kết.
Đây cũng là bài toán mà mô hình sợi dứa ở Ngọc Liên đang phải đối mặt. Những gì HTX làm được đã chứng minh lá dứa có thể trở thành hàng hóa, nhưng quy mô hiện nay vẫn còn nhỏ. Để mở rộng, cần vùng nguyên liệu ổn định, thiết bị phù hợp, kỹ thuật xử lý tốt hơn và doanh nghiệp đủ khả năng tiếp nhận sản phẩm ở quy mô lớn.
Điều này cũng lý giải vì sao không phải phụ phẩm nào có giá trị trên lý thuyết cũng nhanh chóng trở thành một ngành hàng. Có loại cần công nghệ cao, có loại phụ thuộc mùa vụ, có loại phải thu gom trên diện rộng, có loại chỉ hiệu quả khi cơ sở chế biến nằm gần vùng nguyên liệu. Nếu tính toán không kỹ, chi phí thu gom và xử lý có thể làm mất lợi thế của chính nguồn nguyên liệu vốn được xem là “miễn phí”.
Vì thế, điều cần thay đổi không chỉ là cách xử lý phần dư thừa sau sản xuất, mà là cách nhìn về hiệu quả của cả quá trình. Giá trị của một cây trồng, một cánh rừng hay một cơ sở chế biến không nhất thiết dừng lại ở sản phẩm chính. Phần còn lại, nếu có công nghệ và thị trường phù hợp, vẫn có thể tạo thêm doanh thu, việc làm và nguyên liệu cho một ngành sản xuất khác.
Từ những chiếc lá dứa ở Ngọc Liên đến vỏ dứa, rơm rạ và phế phẩm gỗ, các mô hình đang hình thành ở Thanh Hóa cho thấy nguồn lực cho kinh tế xanh đôi khi không nằm ở đâu xa. Nó nằm ngay trong những gì nền sản xuất hiện tại đang để lại.
Điều quan trọng là phải tìm được cách để phần còn lại ấy đi tiếp. Khi một chiếc lá trở thành sợi, bã trở thành phân hữu cơ, vỏ cây thành nhiên liệu hay rơm rạ thành một sản phẩm mới, giá trị của sản xuất được kéo dài thêm một đoạn thay vì kết thúc ngay sau khi sản phẩm chính rời khỏi ruộng.
Với Thanh Hóa, đó có thể là một hướng đi để tăng giá trị trên chính những vùng sản xuất đang có, thay vì chỉ trông chờ vào việc mở rộng thêm nguồn lực. Nhưng để những vòng giá trị ấy lớn lên, cần nhiều hơn những mô hình riêng lẻ: cần doanh nghiệp, HTX, người sản xuất và thị trường cùng bước vào một chuỗi sản xuất đủ ổn định.
Phụ phẩm, vì thế, chỉ là điểm bắt đầu. Điều quyết định là Thanh Hóa có tổ chức được nó thành nguồn nguyên liệu, rồi từ nguồn nguyên liệu ấy tạo ra những sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường hay không.
(còn tiếp)
Hà Khải