


Trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa, các khái niệm như “tăng trưởng bền vững” hay “trung hòa carbon” trở thành mệnh lệnh thời đại. Tại Thanh Hóa, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh (Quyết định 3825/QĐ-UBND, 18/10/2023), nhắm tới cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển các ngành xanh, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, nhằm đưa tỉnh trở thành một trong bốn cực tăng trưởng lớn của miền Bắc, cùng Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh.
“Xanh” không còn là lựa chọn, mà là điều kiện sống còn trong phát triển hiện đại. Muốn tăng trưởng nhanh mà vẫn bền vững, chúng ta không thể tiếp tục đánh đổi môi trường lấy kinh tế. Điều quan trọng là bắt đầu từ những việc nhỏ, từ những điều bình dị nhất để quay lại lối sống hài hòa với thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, giảm rác thải và trân trọng giá trị của cuộc sống xanh.

Thế nhưng, lối sống xanh vốn không xa lạ với người Việt. Từ xa xưa, cha ông ta đã sống thuận theo tự nhiên, biết tiết chế, biết “đủ dùng” và tái sử dụng mọi thứ. Ở Thanh Hóa, tinh thần ấy vẫn hiện hữu trong đời sống thường nhật nơi làng quê. Đặc biệt, tại các vùng miền núi, đồng bào vẫn gìn giữ cách canh tác thuận tự nhiên, không dùng đồ một lần, tận dụng mọi vật dụng, những giá trị được truyền từ đời này sang đời khác.
Ở xã Quang Chiểu, những nếp nhà sàn nép bên triền núi vẫn gợi nhịp sống tự nhiên, giản dị. Ông Hà Văn Tình, 61 tuổi, dân tộc Thái, vẫn giữ thói quen đan rổ, rá, nong nia từ mây tre rừng dùng trong gia đình và tặng con cháu. Khi đi chợ phiên, ông Tình mang gùi tre trên lưng thay cho túi nilon, vừa tiện lợi, vừa giữ truyền thống địa phương.

Ông Tình cho biết: “Trước kia nhà nào cũng đan nong nia, rổ rá để dùng quanh năm. Hỏng cái này thì nối lại, chẳng ai bỏ đi cả. Mình sống nhờ rừng thì phải biết thương rừng, chứ lấy của trời nhiều quá cũng không yên đâu. Giờ người ta bảo đó là ‘sống xanh’, nhưng với người Thái chúng tôi, đó là nếp sống từ bao đời rồi.”
Nếp sống tưởng như mộc mạc ấy, chính là cốt lõi của kinh tế tuần hoàn hiện đại, nơi không có gì bị bỏ đi, chỉ được chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Từ rơm rạ làm phân, tro than làm gạch, đến lá cây làm thức ăn chăn nuôi… tất cả là minh chứng rằng “sống xanh” vốn là di sản – chứ không phải trào lưu. Và nếu biết trân trọng, khơi lại giá trị ấy, chúng ta không chỉ gìn giữ bản sắc quê nhà, mà còn nắm trong tay nền tảng quý giá cho con đường phát triển xanh hôm nay.

Trước đây, nông dân Thanh Hóa canh tác dựa trên kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác. Ngày nay, những tập quán ấy được kết hợp với khoa học kỹ thuật, trở thành phương thức canh tác bền vững, vừa tiết kiệm tài nguyên, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, toàn tỉnh hiện có hơn 388.800 ha đất nông nghiệp, sản lượng lương thực đạt khoảng 1,45 triệu tấn mỗi năm, cùng 19.200 ha nuôi trồng thủy sản. Trong đó, nhiều vùng sản xuất đã biết tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, từ rơm rạ, vỏ trấu, bã mía, bã sắn đến phân chuồng, để tái sử dụng, giảm chi phí và giảm phát thải ra môi trường.

Ở nhiều địa phương, nông dân không còn đốt rơm rạ sau thu hoạch mà ủ làm phân hữu cơ, dùng chế phẩm sinh học để xử lý chất thải chăn nuôi, tận dụng nguồn nước thải sau xử lý để tưới tiêu. Tại Lam Sơn, phụ phẩm mía sau ép được chuyển hóa thành điện sinh khối, còn tro xỉ trở lại đồng ruộng nuôi dưỡng đất.
Theo ông Phạm Minh Tôn, Giám đốc Công ty CP Sản xuất, chế biến cói xuất khẩu Việt Anh (Nga Sơn), ngày trước, khi chưa có đồ nhựa, ông bà mình toàn dùng những thứ từ tự nhiên như mo cau làm khay, nứa tre làm rổ, cói đan thành chiếu, làn, giỏ để đi chợ. Mọi thứ đều giản dị mà dùng bền lắm.

“Giờ công nghiệp phát triển, người ta quen với túi nilon, đồ nhựa một lần nên mới lãng quên những thứ ấy. Nhưng thật ra, trên thế giới, họ đang quay lại dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Phát triển các sản phẩm từ cói, tôi chỉ mong giữ được cái nếp cũ của ông bà, vừa tạo việc làm cho bà con, vừa để người ta nhớ rằng từ tự nhiên đã có sẵn mọi thứ mình cần”, ông Tôn chia sẻ.
Không chỉ trong sản xuất, mà cả trong đời sống thường ngày, người Thanh Hóa đang tìm lại thói quen xưa. Ở nông thôn, phong trào “nhà sạch, vườn đẹp” gắn với xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu đã khơi dậy tinh thần tiết kiệm, sống thuận tự nhiên. Cây xanh trước ngõ, hàng rào hoa dại, chậu nước mưa lọc sạch – những chi tiết tưởng nhỏ ấy lại là nền móng của một cộng đồng sống hài hòa với môi trường.

Hiện toàn tỉnh có hơn 1.080 trang trại và 739.000 hộ chăn nuôi, trong đó 75% trang trại lợn áp dụng quy trình VietGAP, 88% ứng dụng tự động hóa để tiết kiệm nước, năng lượng, giảm phát thải. Các vùng nuôi tôm sinh thái kết hợp rong – cua – cá ở Quảng Xương, Hoằng Hóa đang trở thành mô hình nông nghiệp hữu cơ tiêu biểu.
Tiến sĩ Nguyễn Lan Hương, Giảng viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Phát triển nông nghiệp xanh không thể chỉ dựa vào công nghệ. Cốt lõi là con người – là thay đổi thói quen, ý thức và cách sử dụng tài nguyên. Chính tư duy tiết kiệm, tôn trọng tự nhiên của người Việt xưa là nền tảng cho nông nghiệp tuần hoàn hiện đại hôm nay”.

Tinh thần “thuận tự nhiên” không chỉ được áp dụng trong các hộ dân, mà còn trở thành nền tảng cho doanh nghiệp. Tại xã Yên Phú (trước đây là Nông trường Thống Nhất), Vinamilk Green Farm Thanh Hóa là mô hình nông nghiệp tuần hoàn, hướng tới trung hòa carbon (Net Zero).
Theo đó, chất thải chăn nuôi được xử lý qua biogas và chế phẩm sinh học, tái sử dụng làm phân hữu cơ cho các vùng trồng cỏ, ngô, đậu tương. Nước thải sau xử lý được tuần hoàn để tưới tiêu, không xả ra môi trường. Trên mái chuồng, pin năng lượng mặt trời cung cấp điện cho chiếu sáng, làm mát và vận hành thiết bị, tiết kiệm hàng chục nghìn kWh mỗi tháng.
Từ những hạt mầm tuần hoàn trong sản xuất đến đổi thay trong lối sống, có thể thấy “sống xanh” không xa xôi. Nó hiện hữu trong từng việc nhỏ như giữ lại vỏ dứa thay vì bỏ đi, tái sử dụng rơm rạ thay vì đốt, hay đơn giản là hạn chế túi nhựa trong chợ quê. Khi con người biết trân trọng đất, nước, từng nhành rơm, giọt mồ hôi, nông nghiệp bền vững mới trở thành hiện thực.

Hà Khải