
Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, gia tăng giá trị sản phẩm và nâng cao thu nhập cho người dân đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Tây Nguyên. Đây cũng là nội dung trọng tâm được thảo luận tại Diễn đàn “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu khu vực Tây Nguyên”, tổ chức chiều 23/10/2026 tại Pleiku. Chương trình do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, Hội đồng Phát triển Nông nghiệp và Dược liệu Quốc gia VCCI (VCAC) cùng các đơn vị liên quan thực hiện.

Tại diễn đàn, các đại biểu cho rằng lợi thế tự nhiên chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được kết hợp với tổ chức sản xuất phù hợp, ứng dụng khoa học công nghệ và xây dựng chuỗi liên kết từ nguyên liệu đến thị trường. Đây là cơ sở để Tây Nguyên chuyển dần từ phương thức sản xuất phân tán sang phát triển những ngành hàng có chất lượng, khả năng cạnh tranh và giá trị gia tăng cao.


![Dấu ấn khuyến nông Gia Lai: [Bài 3] 'Hốt bạc' nhờ lạc trái vụ](https://i.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/files/content/2026/07/21/1635-1-101020_912.jpg)
Thời gian qua, nhiều địa phương như Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng đã đưa các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, từ hệ thống tưới tiết kiệm, nhà màng, nhà lưới đến quản lý cây trồng tổng hợp (IPHM), tái canh cà phê bằng giống mới và quản lý vùng trồng. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên mà còn tạo điều kiện kiểm soát chất lượng, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn của các thị trường tiêu thụ.

Một số mô hình đã ghi nhận hiệu quả kinh tế đáng kể, với mức thu nhập từ 500 triệu đồng đến hàng tỷ đồng/ha. Dù vậy, những kết quả này chưa phản ánh đồng đều tình hình sản xuất toàn vùng. Quy mô canh tác còn nhỏ lẻ, liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp thiếu chặt chẽ, năng lực chế biến sâu hạn chế, trong khi tình trạng thiếu nước tưới, suy thoái đất và dịch hại vẫn gây áp lực lên sản xuất.
Ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, nhận định lợi thế về đất đai, khí hậu và hệ sinh thái, cùng không gian phát triển sau sáp nhập, tạo cơ hội để địa phương tổ chức lại sản xuất, kết nối các vùng nguyên liệu, mở rộng chế biến và thị trường tiêu thụ.

Theo định hướng của tỉnh, các ngành hàng như cà phê, hồ tiêu, cao su, chanh dây, sầu riêng, rau quả và chăn nuôi sẽ tiếp tục được ưu tiên phát triển. Gia Lai khuyến khích sử dụng giống chất lượng cao, cơ giới hóa, số hóa quản lý vùng trồng và áp dụng các giải pháp tiết kiệm nước. Cùng với đó, việc cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và hình thành chuỗi liên kết cần được đẩy mạnh để nâng cao chất lượng, giảm chi phí và hạn chế rủi ro đầu ra.
Đối với lĩnh vực dược liệu, bài toán không chỉ nằm ở mở rộng diện tích mà còn ở khả năng kiểm soát chất lượng từ đầu vào. Bà Đoàn Hương Sơn cho biết diện tích dược liệu tại ba tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng hiện đạt khoảng 6.168 ha. Trong cơ cấu này, cây ngắn ngày chiếm 89,9%, chủ yếu là nghệ vàng, gừng và sả; các loài quý, có chu kỳ sinh trưởng dài như sâm Ngọc Linh và sâm Lai Châu chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.


Thực trạng trên cho thấy cơ cấu sản xuất dược liệu vẫn thiên về các loại cây phổ biến, trong khi những loài có giá trị kinh tế và dược tính cao chưa được phát triển tương xứng. Theo bà Sơn, việc chuẩn hóa giống, ngăn chặn tình trạng nhân giống tràn lan, xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn GACP-WHO và nâng cao năng lực chế biến, xây dựng thương hiệu là những yêu cầu cần sớm giải quyết. Toàn vùng hiện mới có 49 trong tổng số 108 giống dược liệu được công nhận lưu hành.
Đến năm 2030, Tây Nguyên định hướng phát triển dựa trên bốn trụ cột gồm nông nghiệp xanh và bền vững; ứng dụng công nghệ cao, số hóa; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân gắn với chế biến sâu; chuẩn hóa vùng nguyên liệu dược liệu và phát triển thương hiệu bản địa.

Bên cạnh các ngành hàng nông nghiệp chủ lực, hệ sinh thái rừng phong phú đang mở ra hướng phát triển kinh tế nhiều giá trị cho Tây Nguyên. Trồng dược liệu dưới tán rừng được kỳ vọng vừa tạo nguồn nguyên liệu cho ngành dược, vừa đa dạng hóa sinh kế, tăng thu nhập cho người dân và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng.
Gia Lai có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mô hình này. Tỉnh có hơn 986.613 ha đất có rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên đạt 692.091 ha. Đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, độ ẩm tương đối cao cùng các nhóm đất đỏ bazan tầng dày, giàu khoáng chất tại nhiều khu vực tạo điều kiện cho một số loài dược liệu sinh trưởng dưới tán rừng.

Theo thống kê được cung cấp, địa phương ghi nhận khoảng 537-573 loài cây dược liệu, trong đó có 21 loài thực vật quý hiếm được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam. Khoảng 30 loài có giá trị kinh tế cao được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền và công nghiệp dược, như lan kim tuyến, thất diệp nhất chi hoa, sa nhân, mật nhân, đẳng sâm, hà thủ ô đỏ, đương quy, ba kích và bách bộ.

Nguồn dược liệu tự nhiên phân bố chủ yếu tại các khu vực rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, tập trung ở những địa bàn có diện tích rừng lớn như Kbang, Mang Yang, Đak Đoa, Chư Prông, Ia Grai và vùng núi phía Đông của tỉnh. Đây là cơ sở để nghiên cứu lựa chọn loài cây phù hợp với điều kiện sinh thái từng khu vực, hình thành vùng trồng gắn với bảo tồn nguồn gen và phục hồi hệ sinh thái.

Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU của Tỉnh ủy Gia Lai về bảo tồn và phát triển cây dược liệu, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ dân đã mở rộng trồng đinh lăng, nghệ, gừng, sả, cà gai leo, sa nhân tím, sâm bố chính, đương quy, hà thủ ô đỏ và lan kim tuyến. Toàn tỉnh đã hình thành hàng nghìn hécta vùng trồng dược liệu, có 4 nhà máy chế biến và 55 sản phẩm dược liệu đạt chứng nhận OCOP.
Tuy nhiên, tiềm năng lớn cũng đi kèm những thách thức về quản lý và khai thác tài nguyên. Công tác điều tra, đánh giá trữ lượng và xây dựng cơ sở dữ liệu dược liệu chưa đồng bộ; một số loài quý vẫn bị khai thác tự phát, trong khi hoạt động bảo tồn nguồn gen, nhân giống và phục hồi quần thể tự nhiên còn hạn chế. Những loài có giá trị như lan kim tuyến, thất diệp nhất chi hoa và một số cây thuốc quý khác đứng trước nguy cơ suy giảm do khai thác kéo dài và tác động đến sinh cảnh.

Gia Lai đặt mục tiêu đến năm 2030 xác định các khu vực có tiềm năng phát triển dược liệu dưới tán rừng với quy mô 31.000 ha. Tỉnh dự kiến xây dựng hai trung tâm trồng khảo nghiệm và sản xuất giống tại phía Tây và phía Đông; phát triển ít nhất bốn cơ sở sản xuất giống đạt chuẩn thương mại, đáp ứng trên 70% nhu cầu giống trong tỉnh. Đồng thời, địa phương hướng tới hình thành trung tâm bảo tồn tri thức y học cổ truyền và nguồn gen cây thuốc quý, đầu tư mới hoặc nâng cấp tối thiểu hai cơ sở sơ chế, chế biến dược liệu và phát triển ít nhất hai thương hiệu sản phẩm của tỉnh.

Các vùng phát triển sẽ được phân định theo điều kiện sinh thái và loại hình đất lâm nghiệp. Tại những khu vực rừng tự nhiên là rừng sản xuất, địa phương định hướng phát triển các loài chịu bóng, có nguồn gốc bản địa như sa nhân tím, ba kích, lan kim tuyến, đẳng sâm và hà thủ ô đỏ, kết hợp bảo tồn nguồn gen và phục hồi sinh cảnh. Với rừng sản xuất là rừng trồng, các mô hình trồng xen dược liệu sẽ được khuyến khích gắn với quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.
Theo kế hoạch, khu vực Bắc và Đông Bắc Gia Lai được xác định là vùng trọng điểm, với định hướng phát triển khoảng 11.000 ha tại các địa bàn Đăk Rong, Kbang và Kông Bơ La. Các khu vực Đak Sơmei, Krong, Sơn Lang và vùng lân cận dự kiến bố trí hơn 10.000 ha; khu vực Vĩnh Sơn, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ Tây và An Toàn khoảng 5.100 ha. Phía Tây tỉnh dự kiến quy hoạch 4.400 ha tại Ayun, Al Bá, Bờ Ngoong, Pờ Tó và Ia Ly, bên cạnh khoảng 500 ha trồng xen các loài ngắn ngày tại Biển Hồ, Gào và một số phường nhằm phục vụ sơ chế tại chỗ, kết hợp phát triển du lịch sinh thái, điều dưỡng.

Để triển khai hiệu quả, tỉnh định hướng ứng dụng ảnh vệ tinh và hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong xây dựng bản đồ số hóa vùng quy hoạch, quản lý theo tiểu khu, xã và chủ rừng, đồng thời tích hợp mã số vùng trồng. Việc khoanh vùng bảo tồn các quần thể dược liệu hoang dại nguy cấp tại lõi Vườn quốc gia Kon Ka Kinh và xây dựng vườn thực vật lưu giữ nguồn gen tại vùng đệm cũng được đặt ra. Song song với bảo tồn tài nguyên sinh học, địa phương hướng tới tư liệu hóa các bài thuốc cổ truyền của cộng đồng dân tộc thiểu số, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng khi tri thức bản địa được thương mại hóa.
Phát triển dược liệu dưới tán rừng cũng đang được nhiều địa phương khác quan tâm. Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Lào Cai đã hình thành các mô hình trồng sâm dưới tán rừng; riêng Lai Châu có hơn 130 ha sâm Lai Châu được phát triển theo phương thức này. Tại Điện Biên, địa phương dự kiến phát triển vùng dược liệu quý khoảng 3.980 ha tại Quài Tở và 500 ha sâm Lai Châu, sâm Ngọc Linh dưới tán rừng phòng hộ. Kon Tum trước đây cũng từng định hướng quy hoạch 1.220 ha tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh để phát triển dược liệu, đồng thời dự kiến dành 10.000 ha rừng cho sâm Ngọc Linh dưới tán rừng. Những mô hình này cho thấy nhu cầu hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn đang ngày càng rõ nét, nhưng cần đi cùng cơ chế quản lý chặt chẽ và phương án bảo vệ hệ sinh thái.


Đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm nhấn mạnh phát triển dược liệu dưới tán rừng phải tuân thủ pháp luật lâm nghiệp, không làm suy giảm diện tích, chất lượng và chức năng sinh thái của rừng. Các địa phương cần rà soát quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch tỉnh và quy hoạch sử dụng đất để xác định khu vực phù hợp. Việc một khu vực có tên trong quy hoạch không đồng nghĩa với việc được tự động trồng dược liệu ở mọi vị trí; loài cây, quy mô và kỹ thuật canh tác phải tương thích với điều kiện sinh thái, không gây tổn hại đa dạng sinh học. Đối với rừng tự nhiên, bảo vệ hệ sinh thái và khả năng phục hồi phải được ưu tiên; không được lợi dụng hoạt động trồng dược liệu để khai thác trái phép cây thuốc tự nhiên hoặc tổ chức ngâm, ủ, sấy và chế biến trực tiếp trong rừng.

Dù vậy, thu hút đầu tư và mở rộng vùng trồng mới chỉ là điều kiện ban đầu. PGS.TS. Thầy thuốc ưu tú Đỗ Thị Hà, Phó Viện trưởng Viện Dược liệu, Bộ Y tế, cho rằng muốn đưa công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế chiến lược cần phát triển đồng bộ toàn chuỗi giá trị, từ giống, vùng trồng, tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc đến chế biến sâu, xây dựng thương hiệu.
Theo bà Hà, nghiên cứu khoa học phải bắt đầu từ nhu cầu thị trường, xác định rõ sản phẩm mục tiêu, thông số chất lượng và giá thành trước khi lựa chọn công nghệ. Giống cây dược liệu cần được định danh chính xác, có nguồn gốc rõ ràng; khâu sơ chế, bảo quản phải hạn chế hao hụt, nấm mốc và biến đổi thành phần. Đối với chế biến sâu, việc hoàn thiện quy trình chiết xuất, tinh chế cao chuẩn hóa và ứng dụng công nghệ sinh học sẽ góp phần nâng cao hiệu suất, ổn định chất lượng sản phẩm.

Riêng sâm Ngọc Linh và sâm Lai Châu, hàm lượng hoạt chất có thể thay đổi theo vùng trồng, độ tuổi và mùa thu hái. Vì vậy, tiêu chuẩn chất lượng cần được xây dựng dựa trên dữ liệu khoa học và phương pháp phân tích đã thẩm định. Hệ thống truy xuất nguồn gốc cũng cần kết hợp định danh sinh học bằng hình thái và ADN, kiểm tra dấu vân tay hóa học, hàm lượng hoạt chất, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng cùng hồ sơ số của từng lô sản xuất.
Có thể thấy, phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu dưới tán rừng tại Tây Nguyên không đơn thuần là mở rộng diện tích hay gia tăng sản lượng. Yêu cầu cốt lõi là tổ chức lại sản xuất, chuẩn hóa nguyên liệu, nâng cao năng lực chế biến và xây dựng thị trường ổn định, đồng thời bảo vệ nguồn gen và hệ sinh thái rừng. Khi doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hợp tác xã và người dân cùng tham gia một chuỗi giá trị minh bạch, dược liệu mới có thể trở thành động lực kinh tế lâu dài, đóng góp thiết thực vào sinh kế cộng đồng và mục tiêu phát triển xanh của toàn vùng.
Trần Huyền