

Chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách thức quản lý và sử dụng tài nguyên trong các ngành công nghiệp. Thay vì chỉ tập trung xử lý chất thải sau sản xuất, doanh nghiệp cần tính toán khả năng thu hồi, tái sử dụng vật liệu ngay trong quá trình vận hành, đồng thời tăng cường kết nối với những đơn vị có nhu cầu sử dụng nguồn nguyên liệu thứ cấp. Đây cũng là hướng đi có ý nghĩa đối với ngành vật liệu xây dựng (VLXD), lĩnh vực có nhu cầu lớn về nguyên liệu và năng lượng, trong khi nhiều hoạt động sản xuất vẫn tạo ra lượng chất thải công nghiệp đáng kể.

Thực tế, tro, xỉ nhiệt điện, xỉ thép, thạch cao và bụi lò luyện kim đều có khả năng được nghiên cứu, xử lý để phục vụ những mục đích sản xuất khác nhau. Nếu được phân loại và chế biến bằng công nghệ thích hợp, các dòng vật liệu này có thể trở thành phụ gia hoặc nguyên liệu đầu vào cho sản xuất xi măng, bê tông, gạch không nung và nhiều sản phẩm VLXD khác. Cách tiếp cận này vừa giảm lượng chất thải phải lưu giữ, vừa hạn chế nhu cầu khai thác tài nguyên nguyên sinh.

Một trong những mô hình đáng chú ý là hoạt động của Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường trong xử lý và tái chế tro, xỉ từ các nhà máy nhiệt điện. Doanh nghiệp đã triển khai các dây chuyền tuyển ướt, sấy khô và xử lý vật liệu nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu phục vụ ngành VLXD. Thông qua quá trình chế biến, những vật chất trước đây chủ yếu được đưa đi lưu chứa có thể được chuyển hóa thành phụ gia và nguyên liệu cho các công đoạn sản xuất tiếp theo.


Việc tận dụng tro bay và các loại phụ gia tái chế cũng mở ra khả năng thay thế một phần nguyên liệu truyền thống trong sản xuất gạch bê tông khí chưng áp, tấm tường panel và vữa khô. Khi đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, độ bền và tính ổn định, những sản phẩm này không chỉ góp phần giảm tiêu hao tài nguyên mà còn tạo thêm lựa chọn cho thị trường VLXD theo hướng tiết kiệm nguyên liệu.
Theo ông Kiều Văn Mát, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường, cải tiến công nghệ và nâng cấp dây chuyền là những giải pháp được doanh nghiệp chú trọng nhằm tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất. Việc tối ưu hóa thiết bị và các công đoạn vận hành không chỉ giúp kiểm soát chi phí đầu vào mà còn hướng tới giảm mức tiêu hao năng lượng, phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm.

Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình tái chế không thể chỉ được đánh giá qua khối lượng chất thải thu hồi. Các công đoạn tuyển, sấy, vận chuyển và xử lý vật liệu đều tiêu thụ năng lượng, do đó doanh nghiệp cần xem xét tổng thể lợi ích tài nguyên và môi trường trong toàn bộ chu trình. Việc kiểm soát chất lượng nguyên liệu sau chế biến cũng là điều kiện quan trọng để bảo đảm sản phẩm đáp ứng yêu cầu sử dụng và có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Những vấn đề này không chỉ xuất hiện trong ngành VLXD mà còn được phản ánh tại nhiều lĩnh vực sản xuất công nghiệp khác. Tại tọa đàm trực tuyến “Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tái chế, tái sử dụng và tuần hoàn chất thải trong sản xuất công nghiệp để sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 2/11, các chuyên gia và doanh nghiệp đã chỉ ra những hạn chế đang cản trở quá trình đưa vật liệu tái chế trở lại chuỗi sản xuất.

Theo ThS Nguyễn Thi, Giảng viên chính Bộ môn Pháp luật, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo chuyển biến trong tư duy quản lý, chuyển từ xử lý chất thải ở khâu cuối sang kiểm soát toàn bộ vòng đời sản phẩm. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào việc hạn chế phát sinh chất thải từ khâu thiết kế, lựa chọn nguyên liệu, tổ chức sản xuất đến thu gom và tái chế sau sử dụng.
Mặc dù vậy, một trở ngại đáng kể là chưa có quy định đầy đủ về việc chuyển đổi tư cách của vật chất sau xử lý từ chất thải thành hàng hóa. Theo ông Nguyễn Thi, để thực hiện quá trình này cần xác định rõ mục đích sử dụng, khả năng tiêu thụ trên thị trường, các yêu cầu an toàn và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Đặc biệt, việc thiếu mã HS khiến nhiều loại vật liệu dù có khả năng tái sử dụng vẫn gặp khó khăn trong giao dịch và xuất khẩu. “Không có mã HS khó có thể giao dịch, xuất khẩu”, ông nhấn mạnh.
Ở góc độ sản xuất, ông Lê Việt, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Thép Miền Nam (VNSTEEL) cho biết, doanh nghiệp sử dụng công nghệ lò điện hồ quang EAF với nguyên liệu chủ yếu là thép vụn, thép phế. Theo số liệu doanh nghiệp chia sẻ tại tọa đàm, mức phát thải trung bình để sản xuất một tấn thép bằng công nghệ lò cao khoảng 1,8 tấn CO2, trong khi công nghệ EAF vào khoảng 0,5 tấn CO2. Tuy nhiên, con số thực tế còn phụ thuộc vào nguyên liệu và nguồn năng lượng sử dụng.


Ngoài việc tận dụng thép phế, doanh nghiệp đã đầu tư khoảng 42 tỷ đồng cho hệ thống thu hồi bụi lò. Lượng bụi sau thu gom được chuyển đến các đơn vị chế biến nhằm thu hồi kim loại, trong đó hàm lượng kẽm được đề cập ở mức khoảng 30-35%. Xỉ lò điện cũng được nghiên cứu, xử lý để phục vụ sản xuất xi măng và bê tông nhẹ.
Dù vậy, nguồn thép phế trong nước chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, buộc doanh nghiệp tiếp tục nhập khẩu từ Nhật Bản, Singapore, Australia và Mỹ. Chuỗi thu gom, phân loại còn phân tán, chất lượng nguyên liệu thiếu đồng đều, trong khi một số quy định về thép phế nhập khẩu và kiểm soát tạp chất chưa thực sự tương thích với thông lệ quốc tế.

Tương tự, ngành giấy mỗi năm sử dụng gần 7 triệu tấn nguyên liệu tái chế, chủ yếu để sản xuất giấy bao bì phục vụ các lĩnh vực dệt may, da giày, thủy sản và điện tử. Tuy nhiên, theo ông Lương Chí Hiếu, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển VPPA, kiêm Chánh văn phòng Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu khoảng 50% nguyên liệu sản xuất giấy bao bì. Bên cạnh đó, mức ký quỹ nhập khẩu phế liệu giấy từ 15-20% giá trị lô hàng đang tạo áp lực về vốn lưu động. Ông đề xuất nghiên cứu điều chỉnh mức ký quỹ xuống khoảng 0-5%, đồng thời sớm có hướng dẫn liên ngành về việc tận dụng tro, xỉ phát sinh trong sản xuất giấy.

Từ thực tiễn các ngành sản xuất có thể thấy, công nghệ tái chế dù được đầu tư vẫn khó phát huy hết hiệu quả nếu thiếu cơ chế lưu thông và thị trường tiêu thụ ổn định. Nhiều doanh nghiệp có khả năng xử lý chất thải nhưng chưa tìm được đầu ra phù hợp, trong khi đơn vị có nhu cầu sử dụng lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật.

Đối với ngành VLXD, việc hình thành mối liên kết giữa nhà máy nhiệt điện, đơn vị xử lý tro, xỉ và doanh nghiệp sản xuất là yếu tố quan trọng để bảo đảm nguồn cung ổn định. Khi các bên phối hợp ngay từ khâu phát sinh, thu gom, phân loại đến chế biến và tiêu thụ, chi phí vận chuyển có thể được kiểm soát tốt hơn, đồng thời hạn chế tình trạng nguyên liệu tái chế không đáp ứng yêu cầu hoặc thiếu đầu ra.
Cùng với tổ chức lại chuỗi cung ứng, việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật cần được xem là điều kiện nền tảng. Mỗi loại vật liệu sau tái chế có đặc tính khác nhau, do đó cần có phương pháp kiểm định phù hợp, xác định rõ phạm vi và mục đích sử dụng. Điều này không chỉ bảo đảm an toàn cho môi trường, sức khỏe cộng đồng mà còn giúp doanh nghiệp có căn cứ pháp lý để đưa sản phẩm ra thị trường.


Theo ông Lê Việt, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý để vật liệu tái chế đủ điều kiện được đưa trở lại hoạt động sản xuất. Việc quy định tỷ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế cũng cần tính đến đặc thù công nghệ và khả năng cung ứng của từng ngành, tránh đặt ra yêu cầu vượt quá năng lực thực tế của doanh nghiệp. Ông đồng thời đề xuất ứng dụng mã QR và công nghệ thông tin trong truy xuất nguồn gốc, theo dõi quá trình thu gom, xử lý nguyên liệu, qua đó bảo đảm dữ liệu minh bạch và hạn chế việc ghi nhận trùng lặp lợi ích môi trường. Các chính sách tín dụng xanh, ưu đãi thuế cũng cần gắn với kết quả giảm phát thải CO2 trên mỗi tấn sản phẩm.
Về định hướng chính sách, Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030 được phê duyệt tại Quyết định số 1894/QĐ-TTg ngày 4/9/2025 đặt mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất thiết bị, dây chuyền và công nghệ môi trường trong nước, bao gồm công nghệ xử lý, chế biến và tái chế chất thải. Bộ Công Thương cũng triển khai kế hoạch hành động theo Quyết định số 3637, tập trung nghiên cứu, làm chủ công nghệ, hoàn thiện danh mục thiết bị và sản phẩm môi trường, thúc đẩy cộng sinh công nghiệp và huy động nguồn lực tài chính xanh.
Theo ông Trương Việt Trường, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm các nguồn vốn xanh, lựa chọn công nghệ phù hợp và tham gia vào mạng lưới cộng sinh công nghiệp. Trong khi đó, ông Nguyễn Thi cho rằng cần phát triển thị trường nguyên liệu thứ cấp, đồng thời xây dựng tỷ lệ sử dụng phù hợp với từng nhóm sản phẩm và tiệm cận yêu cầu của những thị trường xuất khẩu lớn.

Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi các thị trường quốc tế liên tục nâng cao tiêu chuẩn môi trường. Từ ngày 1/1/2026, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu bước vào giai đoạn thực thi chính thức đối với các nhóm hàng thuộc phạm vi áp dụng, trong đó có sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro. Cùng với đó, Quy định về bao bì và chất thải bao bì (PPWR) của EU áp dụng từ tháng 8/2026 đặt ra những yêu cầu mới về khả năng tái chế và tỷ lệ nhựa tái chế trong bao bì. Những thay đổi này khiến khả năng kiểm soát nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và chứng minh hiệu quả môi trường ngày càng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.

Do đó, tái chế cần được nhìn nhận không chỉ như một giải pháp xử lý chất thải mà còn là một cấu phần trong chiến lược nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu. Khi các nguồn nguyên liệu thứ cấp được định danh rõ ràng, kiểm soát chất lượng, có thị trường tiêu thụ và được kết nối thông suốt giữa các ngành, doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện giảm phụ thuộc vào tài nguyên nguyên sinh, kiểm soát chi phí và đáp ứng những tiêu chuẩn xanh.
Đối với ngành VLXD, việc phát huy giá trị của tro, xỉ và các phụ phẩm công nghiệp cần song hành với đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và mở rộng liên kết sản xuất. Đây là hướng đi để chuyển hóa những nguồn chất thải đang tạo áp lực lên môi trường thành đầu vào có giá trị kinh tế, từng bước hình thành chuỗi sản xuất hiệu quả tài nguyên và phát thải thấp.
Trần Huyền