
Ở thôn Yên Khang, xã Xuân Thái, ông Phạm Văn Thuật đang quản lý 35 ha đất lâm nghiệp được Ban Quản lý Rừng phòng hộ Như Thanh giao sản xuất. Gần 3 ha là rừng tự nhiên, phần còn lại là rừng sản xuất, trong đó ông dành một phần diện tích để hướng tới trồng gỗ lớn.
Làm rừng là câu chuyện của thời gian. Người trồng có thể khai thác sau 5-7 năm để sớm thu hồi vốn, nhưng nếu giữ cây lâu hơn, đầu tư chăm sóc tốt hơn, hướng tới gỗ lớn và thị trường có yêu cầu cao hơn thì giá trị của cùng một diện tích có thể thay đổi đáng kể. Với những hộ sống dựa vào rừng, lựa chọn ấy không đơn giản, bởi vốn nằm trong đất nhiều năm và thu nhập không thể thu về ngay.

Từ một khu rừng như của ông Thuật, bài toán kinh tế rừng được đặt ra rất cụ thể: không phải cứ có thêm diện tích là có thêm giá trị, mà phải làm sao để giá trị tạo ra trên mỗi hecta ngày càng lớn hơn.
Theo hiện trạng rừng năm 2025, Thanh Hóa có 644.796,69 ha rừng, gồm 391.842,63 ha rừng tự nhiên và 252.954,06 ha rừng trồng; độ che phủ đạt 54,09%. Riêng rừng trồng sản xuất có trên 220.000 ha. Năm 2025, toàn tỉnh khai thác khoảng 1,1 triệu m³ gỗ, 65 triệu cây luồng, vầu và khoảng 85.000 tấn nguyên liệu giấy.
Đó là nguồn nguyên liệu lớn, nhưng sản lượng chưa phải là thước đo đầy đủ về hiệu quả kinh tế. Một mét khối gỗ hay một cây luồng khi rời khỏi rừng mới chỉ là điểm đầu của chuỗi giá trị. Nếu nguyên liệu được bán ở khâu thấp nhất, còn những công đoạn tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn nằm ở nơi khác, vùng nguyên liệu vẫn chỉ nhận được phần nhỏ hơn trong tổng giá trị mà rừng có thể tạo ra.

Theo ông Lê Đức Cường, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, dư địa lớn nhất hiện nay là nâng năng suất, chất lượng rừng, chuyển mạnh sang gỗ lớn, mở rộng diện tích quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, đồng thời tăng chế biến sâu đối với gỗ, tre, luồng và phát triển các giá trị dưới tán rừng.
Thanh Hóa hiện có trên 51.000 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Tuy nhiên, để chứng chỉ thực sự trở thành giá trị kinh tế, nguồn nguyên liệu phải được kết nối với doanh nghiệp và thị trường phù hợp. Theo ông Hùng, sản xuất lâm nghiệp vẫn còn manh mún, nhiều hộ có diện tích nhỏ; chu kỳ kinh doanh 5-7 năm còn phổ biến; liên kết giữa người trồng rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp ở không ít nơi mới dừng ở khâu mua bán nguyên liệu, trong khi chế biến sâu chưa tương xứng với tiềm năng.
Nói cách khác, điểm nghẽn của kinh tế rừng không chỉ nằm trong rừng mà nằm ở những khâu phía sau rừng. Cây được trồng tốt hơn nhưng nếu vẫn bán sớm, bán nguyên liệu và thiếu liên kết dài hạn thì phần giá trị tăng thêm rất khó quay trở lại vùng trồng.

Câu chuyện cây luồng cho thấy rõ nhất khoảng cách giữa sản lượng và giá trị. Thanh Hóa có trên 75.000 ha luồng, nhưng sau nhiều năm chăm sóc, không ít cây khi rời khỏi đồi vẫn chủ yếu đi vào những cơ sở sản xuất tăm, đũa quy mô nhỏ; một phần được cắt làm cọc, chẻ thành nan rồi cân bán. Người trồng có đầu ra, nhưng phần giá trị gia tăng lớn hơn lại nằm ở những công đoạn tiếp theo.

Tại thôn Lương Ngoại, xã Quý Lương, hơn 500 ha rừng sản xuất của thôn có khoảng 300 ha luồng, trong đó khoảng 250 ha đã được thâm canh, phục tráng. Trưởng thôn Trương Văn Hiệp cho biết trước đây nhiều hộ ít đầu tư chăm sóc, bón phân, để rừng luồng già cỗi nên năng suất thấp; những năm gần đây, người dân đã chú ý phát dọn, tỉa cành, bón phân và chăm sóc để nâng chất lượng cây.
Những hộ như ông Trương Ngọc Khoan có hơn 15 ha, ông Trương Văn Hoàng có 10 ha hay ông Trương Phúc Hon có hơn 5 ha đang đầu tư trở lại cho cây luồng. Nhưng nếu sau nhiều năm chăm sóc, cây vẫn chủ yếu được bán làm cọc, nan, tăm, đũa ở những khâu sơ chế thì dư địa tăng giá trị cho người trồng vẫn còn rất lớn.

Thanh Hóa hiện có hơn 57 cơ sở chế biến tre, luồng, tiêu thụ khoảng 45% sản lượng luồng của tỉnh. Tuy nhiên, phần lớn vẫn là cơ sở quy mô nhỏ, sản phẩm chưa đi sâu vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao. Một phần nguyên liệu tiếp tục được đưa ra ngoài tỉnh để chế biến.
Đó là lý do người trồng luồng ở các vùng nguyên liệu kỳ vọng vào những dự án chế biến sâu. Dự án Nhà máy sản xuất ván tre ép OSB StaBOO Thanh Hóa có quy mô hơn 26 ha, công suất thiết kế 225.000 m³ sản phẩm mỗi năm, tiêu thụ khoảng 1.000 tấn nguyên liệu tre mỗi ngày. Với vùng nguyên liệu luồng lớn của Thanh Hóa, một dự án có nhu cầu nguyên liệu ở quy mô như vậy có thể mở ra cách tiêu thụ khác cho cây luồng: từ nguyên liệu được cắt, chẻ rồi bán theo cân sang một chuỗi sản xuất công nghiệp tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.

Điều người trồng rừng kỳ vọng vì thế không chỉ là có thêm một nơi bán luồng. Nếu doanh nghiệp xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định và liên kết dài hạn với người dân, nhu cầu nguyên liệu lớn sẽ tạo động lực để các hộ thâm canh, phục tráng rừng, nâng chất lượng cây. Khi đó, giá trị của cây luồng không dừng lại ở thời điểm cân bán mà được kéo dài qua các công đoạn chế biến.
Khoảng cách từ chân đồi đến nhà máy, xét cho cùng, cũng là khoảng cách về giá trị. Một cây luồng được bán làm cọc, chẻ nan có một mức giá; nhưng khi được đưa vào sản xuất ván, vật liệu hoặc các sản phẩm tre công nghệ cao, cùng nguồn nguyên liệu ấy có thể tạo ra một giá trị khác. Muốn rút ngắn khoảng cách ấy, vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến phải được đặt trong cùng một chuỗi.
Theo ông Lê Đức Cường, một chuỗi lâm nghiệp xanh phải được tổ chức từ trồng, chăm sóc, khai thác đến chế biến và tiêu thụ, trong đó sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm chất thải và nâng tỷ lệ sản phẩm có giá trị cao là yêu cầu xuyên suốt. Khi nguồn gỗ, tre, luồng được quản lý bền vững, có chứng chỉ và đi vào chế biến sâu, cả sản phẩm chính lẫn phụ phẩm đều có thể tiếp tục tạo ra giá trị thay vì kết thúc ngay tại khâu bán nguyên liệu.

Gỗ và luồng là những giá trị dễ nhìn thấy nhất của rừng, nhưng đó mới chỉ là một phần của phép tính. Rừng còn giữ đất, giữ nước, bảo vệ đầu nguồn, hấp thụ carbon, duy trì đa dạng sinh học; dưới tán rừng có thể phát triển lâm sản ngoài gỗ, dược liệu, mật ong, nông - lâm kết hợp và du lịch sinh thái.

Dịch vụ môi trường rừng cho thấy những giá trị ấy đã bắt đầu trở thành nguồn thu thực tế. Giai đoạn 2020-2024, Quỹ Bảo vệ, phát triển rừng và Phòng chống thiên tai tỉnh đã thu gần 170 tỷ đồng; mỗi năm khoảng 30-35 tỷ đồng được chi trả cho hàng nghìn hộ dân, cộng đồng và tổ chức quản lý rừng. Khoản tiền này không đến từ việc khai thác cây, mà từ những giá trị rừng tạo ra trong quá trình được bảo vệ.
Điều đó làm thay đổi cách nhìn về kinh tế rừng. Giữ rừng không còn chỉ là chi phí hay trách nhiệm bảo vệ tài nguyên; nếu những giá trị về nước, carbon, cảnh quan, đa dạng sinh học và sinh kế dưới tán rừng được lượng hóa, chúng có thể trở thành một phần thu nhập của người giữ rừng.
Thanh Hóa đã đặt vấn đề này ở tầm dài hạn khi triển khai nhiệm vụ “Định lượng giá trị rừng và đóng góp của Lâm nghiệp vào kinh tế xanh của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2050”. Đây là bước quan trọng để xây dựng phương pháp và hệ thống dữ liệu, qua đó nhìn rõ hơn rừng đang đóng góp bao nhiêu cho nền kinh tế và giá trị nào còn chưa được tính đầy đủ.

Theo ông Lê Đức Cường, cùng với quản lý bền vững diện tích rừng hiện có, Thanh Hóa cần tiếp tục phát triển gỗ lớn, mở rộng chứng chỉ rừng, tăng chế biến sâu, phát triển lâm sản ngoài gỗ, du lịch sinh thái, dịch vụ môi trường rừng, nghiên cứu thị trường carbon và thu hút doanh nghiệp đầu tư theo chuỗi. Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ tư duy “giữ rừng” sang “làm kinh tế từ rừng nhưng không làm suy giảm tài nguyên rừng”.
Từ 35 ha rừng của ông Phạm Văn Thuật ở Xuân Thái đến những diện tích luồng đang được phục tráng ở Quý Lương, sự thay đổi ấy bắt đầu từ những việc rất cụ thể: giữ cây lâu hơn, chăm sóc tốt hơn, bán nguyên liệu trong một chuỗi ổn định hơn và đưa sản phẩm đi sâu hơn vào thị trường.
Thanh Hóa có nhiều rừng, nhưng lợi thế ấy chỉ thực sự trở thành lợi thế kinh tế khi giá trị không dừng lại ở thân cây và sản lượng khai thác. Tính lại giá trị của rừng, vì thế, là tính cả những gì một hecta rừng tạo ra trong suốt vòng đời của nó và quan trọng hơn, là làm sao để phần giá trị ấy được giữ lại nhiều hơn cho người trồng rừng, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.
(còn tiếp)
Hà Khải