
Ở Hoằng Thanh, ông Chu Văn Kim được nhiều người gọi là “ông Kim khoai tây”. Vụ đông năm 2016-2017, ông đưa giống khoai tây Marabel về trồng thử trên khoảng 1 ha đất. Từ diện tích ban đầu, ông vận động thêm các hộ tham gia, hướng dẫn kỹ thuật và kết nối doanh nghiệp thu mua, từng bước hình thành vùng nguyên liệu.

Sau này, khi tham gia Công ty CP Nông nghiệp quốc tế An Việt, phụ trách kỹ thuật và phát triển vùng trồng, ông Kim vẫn theo đuổi công việc gắn người sản xuất với doanh nghiệp. Theo ông, muốn nông dân gắn bó với mô hình liên kết thì trước hết phải bảo đảm lợi ích của họ.
“Nếu chỉ nghĩ cho doanh nghiệp thì nông dân sẽ không gắn bó lâu dài. Phải để bà con có lãi thì mô hình mới phát triển bền vững”, ông Kim chia sẻ.
Với người trồng, hiệu quả một vụ sản xuất được tính từ tiền giống, phân bón, công chăm sóc đến giá bán khi thu hoạch. Khi tham gia vùng nguyên liệu, họ còn phải tuân thủ quy trình kỹ thuật, thời vụ và yêu cầu chất lượng. Nếu đầu ra thiếu ổn định hoặc giá thu mua không đủ bù chi phí, việc duy trì sản xuất theo yêu cầu của doanh nghiệp sẽ khó khăn.

Bởi vậy, xây dựng vùng nguyên liệu không đơn thuần là vận động người dân cùng trồng một loại cây. Doanh nghiệp cần nguồn hàng ổn định, còn người trồng phải biết sản phẩm sẽ bán cho ai, tiêu chuẩn thu mua thế nào và khả năng sinh lời ra sao. Liên kết muốn duy trì qua nhiều vụ phải bắt đầu từ sự tính toán lợi ích của cả hai phía.
Theo ngành Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, diện tích các mô hình liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 80.000 ha, với nhiều cây trồng như lúa, mía, sắn, ớt và khoai tây. Quy mô này tạo cơ sở để tổ chức sản xuất hàng hóa tập trung, cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Tuy nhiên, diện tích liên kết mới phản ánh quy mô sản xuất, chưa nói hết hiệu quả kinh tế mà người dân nhận được.

Điều cần nhìn vào là sản phẩm có được tiêu thụ theo cam kết, người trồng có lãi và các bên có tiếp tục hợp tác ở vụ sau hay không. Khi giá cả, chi phí đầu vào hoặc nhu cầu thị trường biến động, nếu không có cách chia sẻ rủi ro phù hợp, mối liên kết rất dễ đứt gãy.
Có thể thấy, muốn có vùng nguyên liệu ổn định, phải tính đến thu nhập của người trồng ngay từ đầu. Khi nông dân có lợi ích rõ ràng, doanh nghiệp mới có cơ sở để đầu tư, chủ động nguồn hàng và tính chuyện chế biến, mở rộng thị trường.

Nếu ông Kim chú trọng tổ chức vùng trồng, Lê Minh Cương chọn hướng đi từ chế biến. Sinh năm 1992, Cương phát triển sản phẩm tương ớt lên men từ nguyên liệu địa phương, xây dựng thương hiệu Spico. Để tìm ra công thức phù hợp, anh đã trải qua 47 lần điều chỉnh.

Tại cơ sở sản xuất của Spicy Country, quả ớt được đưa qua các công đoạn chế biến, lên men, kiểm soát chất lượng và đóng gói. Doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu liên kết, đồng thời áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000:2018.
“Mình phải làm sao để nông sản của người dân không chỉ bán được lúc được mùa, mà có thể tạo ra giá trị cao hơn sau chế biến”, Cương chia sẻ.
Với hướng đi này, quả ớt không còn chỉ được bán dưới dạng nông sản tươi mà trở thành nguyên liệu cho sản phẩm có nhãn hiệu riêng, thời gian sử dụng dài hơn và khả năng tiếp cận những nhóm khách hàng khác. Giá trị tạo ra phụ thuộc vào chất lượng, công nghệ chế biến, cách tổ chức phân phối và sức mua của thị trường.

Nhưng có sản phẩm mang thương hiệu mới là bước đầu. Doanh nghiệp còn phải trang trải chi phí nguyên liệu, nhân công, bao bì, kiểm soát chất lượng và tìm kiếm khách hàng. Nếu hàng hóa làm ra không bán được hoặc chi phí vượt quá khả năng thu hồi, việc đầu tư chế biến khó duy trì lâu dài.
Đấy chính là bài toán cần lời giải khi nhà máy gắn chặt với vùng nguyên liệu. Nguồn ớt thiếu ổn định, chất lượng không đồng đều sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất. Ngược lại, khi doanh nghiệp có nhu cầu thu mua rõ ràng và duy trì được đầu ra, người trồng mới có căn cứ để tổ chức sản xuất theo yêu cầu. Khâu chế biến vì thế cần được tính cùng với khâu trồng trọt, thay vì đợi đến khi có sản lượng mới tìm nơi tiêu thụ.

Ở Pù Luông, Nguyễn Ngọc Thân, Giám đốc HTX Dược liệu Pù Luông, cũng tập trung vào việc tổ chức sản xuất và kết nối đầu ra cho người dân. Ông cho biết: “Với các loại dược liệu, HTX đứng ra kết nối người dân, tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, thu mua và tìm đầu ra”.
Với dược liệu, chất lượng nguyên liệu phụ thuộc vào giống, kỹ thuật canh tác, quy trình chăm sóc và thời điểm thu hái. Nếu mỗi hộ làm theo một cách, sản phẩm khó đồng đều, khó đáp ứng yêu cầu của đơn vị thu mua. HTX có thể làm đầu mối hướng dẫn kỹ thuật, tập hợp sản lượng và kết nối với đối tác tiêu thụ.
Dẫu vậy, vai trò của HTX không dừng ở việc vận động người dân tham gia. Muốn liên kết có hiệu quả, HTX phải nắm được nhu cầu thị trường, khả năng thu mua của đối tác và yêu cầu chất lượng đối với từng loại dược liệu. Người dân cũng cần biết sản phẩm được thu mua theo tiêu chuẩn nào, giá cả được xác định ra sao. Nếu những khâu này chưa được giải quyết, mở rộng diện tích có thể làm tăng sản lượng nhưng chưa chắc cải thiện thu nhập.

Có thể thấy, mỗi mô hình có cách làm riêng. Điểm chung là giá trị nông sản không dừng ở thời điểm thu hoạch. Tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, chế biến và tìm được thị trường phù hợp mới là những khâu quyết định sản phẩm có thể đi xa đến đâu.

Theo ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, tỉnh có lợi thế về đất đai, điều kiện sinh thái, nguồn nguyên liệu nông, lâm sản và hệ thống chế biến để phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng.
“Đất đai là nền tảng, khoa học công nghệ là động lực, hợp tác xã và doanh nghiệp là những chủ thể quan trọng trong tổ chức sản xuất, còn thị trường quyết định định hướng và hiệu quả đầu ra”, ông Cường nói.

Thực tế, sản xuất nông nghiệp vẫn gặp những trở ngại về tích tụ đất đai, tổ chức liên kết và năng lực chế biến. Đất sản xuất ở một số nơi còn phân tán; chi phí cơ giới hóa, áp dụng kỹ thuật mới và đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng là gánh nặng với hộ sản xuất nhỏ. Một số sản phẩm chủ yếu vẫn được bán dưới dạng nguyên liệu hoặc sơ chế, trong khi việc tận dụng phụ phẩm chưa tương xứng với tiềm năng.
Giai đoạn 2026-2030, Thanh Hóa đặt mục tiêu tích tụ, tập trung thêm 50.000 ha đất để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, trong đó có 10.000 ha ứng dụng công nghệ cao. Theo số liệu ngành nông nghiệp được cung cấp, trong 9 tháng đầu năm 2026, diện tích tích tụ, tập trung đất đai đạt 8.887 ha; diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ước đạt 2.196 ha.

Tích tụ đất đai tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ giới hóa, áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật và kiểm soát chất lượng. Nhưng diện tích lớn chưa tự bảo đảm hiệu quả. Cùng với tổ chức lại sản xuất, cần tính đến năng lực chế biến, khả năng tiêu thụ và lợi ích của người trồng. Nếu quy mô sản xuất tăng nhanh trong khi đầu ra không theo kịp, khó khăn vẫn sẽ dồn về phía người sản xuất khi thu hoạch.
Bài toán nâng giá trị cũng hiện diện trong lâm nghiệp. Theo quyết định công bố hiện trạng rừng năm 2025 của UBND tỉnh, Thanh Hóa có hơn 644.796 ha rừng, độ che phủ đạt 54,09%. Đây là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, nhưng giá trị thu về không thể chỉ tính bằng lượng gỗ khai thác.
Bà Nguyễn Lê Ngọc Linh, đại biểu Quốc hội khóa XVI tỉnh Thanh Hóa, Giám đốc HTX Bản Thổ, cho rằng cần mở rộng cách tiếp cận đối với kinh tế lâm nghiệp, tạo sinh kế đa giá trị dưới tán rừng thay vì chỉ chú trọng sản lượng gỗ.
“Rừng không chỉ là ‘lá phổi xanh’ bảo vệ môi trường, mà phải trở thành ‘nồi cơm’ bền vững cho người dân vùng cao. Muốn người dân yên tâm giữ rừng, chính sách phải khơi thông được mô hình kinh tế vườn rừng, phát triển dược liệu và nông sản đặc sản dưới tán rừng gắn với liên kết chế biến. Khi người dân sống khỏe nhờ rừng, nguồn lực lâm nghiệp mới thực sự tái tạo bền vững”, bà Linh nói.

Từ góc nhìn ấy, phát triển lâm nghiệp cần được tính bằng cả nguồn thu từ gỗ, tre luồng, dược liệu và nông sản đặc sản, cùng lợi ích mà người dân nhận được khi tham gia bảo vệ rừng. Muốn những mô hình này đứng vững, cần có quy trình sản xuất phù hợp, đầu ra ổn định và HTX, doanh nghiệp đủ năng lực kết nối chế biến, tiêu thụ. Nếu người dân có thêm thu nhập từ rừng được quản lý bền vững, việc bảo vệ tài nguyên mới gắn chặt hơn với lợi ích sinh kế.
Rừng còn giữ đất, giữ nước, bảo vệ môi trường sinh thái và hấp thụ carbon. Vì vậy, nâng giá trị kinh tế lâm nghiệp phải đi cùng bảo vệ rừng, tái tạo tài nguyên và duy trì sinh kế lâu dài. Khai thác nhiều hơn chưa chắc đồng nghĩa với hiệu quả cao hơn, nếu chất lượng nguyên liệu thấp, phần lớn sản phẩm chưa qua chế biến hoặc nguồn tài nguyên bị suy giảm.
Phụ phẩm nông, lâm nghiệp cũng cần được nhìn nhận như một nguồn nguyên liệu. Rơm rạ, thân lá cây trồng, vỏ keo, mùn cưa, dăm bào và phần tre luồng chưa được tận dụng có thể trở thành đầu vào cho những ngành sản xuất khác. Tuy nhiên, để biến phụ phẩm thành hàng hóa phải giải quyết được chi phí thu gom, vận chuyển, công nghệ xử lý và thị trường tiêu thụ. Chỉ khi giá trị sản phẩm đủ bù chi phí, việc tận dụng phụ phẩm mới có thể duy trì về mặt kinh tế.
Theo ông Cường, để nâng cao giá trị sản xuất, cần tổ chức lại vùng nguyên liệu, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, tăng năng lực chế biến và củng cố liên kết giữa nông dân, HTX với doanh nghiệp. Cùng với đó là tháo gỡ những vướng mắc về đất đai, vốn và thị trường, tạo điều kiện để người sản xuất tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị.
Từ đồng ruộng đến nhà máy, từ vùng dược liệu đến những cánh rừng, Thanh Hóa có nhiều nguồn lực để phát triển. Nhưng nguồn lực chỉ thực sự trở thành lợi thế khi được tổ chức thành những chuỗi sản xuất có đầu ra, có khả năng tạo giá trị và đem lại thu nhập cho người dân.
Một vùng nguyên liệu khó bền vững nếu người trồng không có lãi. Cơ sở chế biến khó phát triển nếu sản phẩm không tìm được chỗ đứng trên thị trường. Rừng cũng khó đem lại sinh kế lâu dài nếu người dân chỉ hưởng lợi từ khai thác trước mắt mà thiếu cơ hội phát triển những mô hình kinh tế gắn với bảo vệ và tái tạo tài nguyên.
Để mỗi nguồn lực tạo thêm giá trị, điều Thanh Hóa cần làm không dừng ở mở rộng quy mô sản xuất hay tăng sản lượng. Quan trọng hơn là kết nối được người sản xuất với HTX, doanh nghiệp và thị trường; đưa chế biến đến gần hơn với vùng nguyên liệu; tạo điều kiện để người dân có phần lợi ích xứng đáng trong chuỗi giá trị. Khi đó, đất đai, nông sản và rừng mới có thể đóng góp lâu dài cho sinh kế người dân và sức phát triển của nền kinh tế địa phương.