
Việt Nam mỗi năm tạo ra khoảng 160 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, gồm 42,8 triệu tấn rơm rạ, 15 triệu tấn bã mía và 1,4 triệu tấn vỏ cà phê. Thế nhưng, hơn 80% trong số này chưa được tận dụng hiệu quả. Nguồn tài nguyên khổng lồ tưởng chừng bỏ đi này không chỉ là cơ hội kinh tế mà còn là thách thức môi trường, đặt ra yêu cầu cấp thiết về áp dụng kinh tế xanh và tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp.

Nguyên nhân chính xuất phát từ nhận thức của người nông dân. Phần lớn vẫn coi phụ phẩm là chất thải cần loại bỏ thay vì một nguồn nguyên liệu có thể tái khai thác. Bên cạnh đó, công nghệ xử lý hiện tại chưa phù hợp với sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, trong khi các chính sách hỗ trợ vẫn còn dàn trải, thiếu trọng tâm phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn.
Tuy nhiên, những mô hình tiên phong đang cho thấy tiềm năng lớn. Tại Tây Nguyên - thủ phủ cà phê của cả nước, một số doanh nghiệp theo hướng nông nghiệp xanh đã triển khai thu gom vỏ cà phê để ủ hóa vi sinh, sản xuất phân bón hữu cơ. Mô hình này giúp các trang trại giảm tới 70% chi phí mua phân bón hóa học và đồng thời cải thiện độ mùn của đất, giúp cây trồng hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn.


PGS TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Nghiên cứu phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), khẳng định, kinh tế tuần hoàn là hướng đi tất yếu trong bối cảnh tài nguyên khan hiếm và áp lực môi trường gia tăng. “Doanh nghiệp cần thay đổi tư duy, chuyển từ khai thác tài nguyên sang quản lý vòng đời tài nguyên. Điều này không chỉ giúp giảm chất thải mà còn tạo ra giá trị kinh tế mới từ những nguồn lực tưởng chừng đã bị bỏ đi”, ông nhấn mạnh.
Khác với mô hình kinh tế tuyến tính “khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ”, kinh tế tuần hoàn kéo dài vòng đời tài nguyên thông qua các hoạt động giảm sử dụng, tái sử dụng, tái chế và phục hồi vật liệu. Mọi nguồn lực đều có thể trở lại chu trình sản xuất và tiêu dùng thay vì bị loại bỏ sau một lần sử dụng.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long - vùng nông nghiệp trọng điểm, tiềm năng áp dụng kinh tế tuần hoàn đặc biệt lớn. Từ rơm rạ, vỏ trấu, phế phẩm thủy sản đến bã trái cây, tất cả đều có thể tái chế thành phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi hoặc năng lượng sinh khối. Việc tận dụng hiệu quả các phụ phẩm này không chỉ nâng cao giá trị tài nguyên mà còn giảm ô nhiễm môi trường, tạo sinh kế và cải thiện thu nhập cho người dân.
Đổi mới sáng tạo là yếu tố then chốt giúp kinh tế xanh và tuần hoàn phát huy hiệu quả. TS Nguyễn Hồng Cẩm, Đại học Nam Cần Thơ, cho rằng quá trình này không chỉ là đổi mới công nghệ mà còn là đổi mới mô hình kinh doanh, chuỗi giá trị và phương thức cung ứng sản phẩm. OECD cũng chỉ ra rằng đổi mới sinh thái tạo ra sản phẩm, quy trình và mô hình quản trị mới, cải thiện tác động môi trường so với giải pháp truyền thống, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
PGS TS Nguyễn Hồng Quân nhấn mạnh, thành công của kinh tế xanh phụ thuộc vào sự hợp tác giữa doanh nghiệp, nhà nước, trường đại học và các tổ chức xã hội. Sự phối hợp này hình thành hệ sinh thái đổi mới, nơi các ý tưởng được thử nghiệm và nhân rộng, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
Trên thực tế, các mô hình kinh tế xanh như nông nghiệp tuần hoàn, khu công nghiệp sinh thái, tái chế rác thải nhựa hay phát triển năng lượng tái tạo đang được triển khai tại Việt Nam. Từ những phụ phẩm tưởng chừng bỏ đi, kinh tế tuần hoàn mở ra “mỏ vàng” cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả, cần sự thay đổi đồng bộ từ nhận thức, công nghệ đến chính sách và mô hình hợp tác. Khi đó, kinh tế xanh không chỉ là xu hướng mà trở thành nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong tương lai.
Trần Huyền