
Ngành giống cây trồng đang dần khẳng định vai trò trung tâm trong quá trình nâng cao giá trị gia tăng của nông nghiệp Việt Nam. Mỗi năm, thị trường cung ứng khoảng 500.000 - 550.000 tấn giống lúa, 20.000 - 22.000 tấn giống ngô cùng hàng trăm nghìn tấn giống rau, củ, quả và cây công nghiệp như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu… phục vụ sản xuất trên cả nước. Nguồn cung ổn định không chỉ đảm bảo nhu cầu canh tác mà còn góp phần cải thiện chất lượng nông sản, hướng tới các tiêu chuẩn xuất khẩu ngày càng khắt khe.

Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, Việt Nam hiện đã gần như tự chủ hoàn toàn nguồn giống lúa và phần lớn giống ngô lai, qua đó giảm mạnh sự phụ thuộc vào nhập khẩu. Việc đưa các giống mới vào sản xuất giúp năng suất tăng từ 8 - 15% tùy loại cây trồng, tạo hiệu quả kinh tế rõ rệt và cải thiện sinh kế cho người nông dân. Đây được xem là bước chuyển quan trọng, góp phần thay đổi diện mạo ngành trồng trọt theo hướng hiện đại và bền vững hơn.
Trong tiến trình này, doanh nghiệp đóng vai trò chủ lực, song hành cùng các viện nghiên cứu. Nhấn mạnh về vai trò này, Trần Xuân Định - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam cho biết nhiều doanh nghiệp đã trở thành lực lượng nòng cốt trong sản xuất và cung ứng giống. Các đơn vị như Vinaseed, ThaiBinh Seed, ADI, Giống cây trồng Quảng Ninh, Giống cây trồng miền Nam cùng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như C.P, Syngenta, Bayer và Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long đã góp phần đảm bảo nguồn cung ổn định, không để xảy ra tình trạng thiếu hay “sốt” giống trong những năm gần đây.

Cũng theo ông Trần Xuân Định, phần lớn doanh nghiệp đã chủ động liên kết với nông dân xây dựng vùng sản xuất giống quy mô lớn, đồng thời đầu tư hệ thống chế biến, sấy và bảo quản hiện đại. Ngay cả các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ cũng tích cực đổi mới công nghệ, trang bị thiết bị sàng lọc tiên tiến để nâng cao chất lượng hạt giống, đảm bảo độ đồng đều và tiêu chuẩn kỹ thuật khi đưa ra thị trường.
Không dừng lại ở sản xuất trong nước, nhiều doanh nghiệp còn linh hoạt nhập khẩu các giống lai năng suất cao đối với rau màu và hoa - những lĩnh vực chưa đáp ứng đủ nhu cầu nội địa. Song song đó, việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị lúa gạo, từ sản xuất đến thu mua và chế biến, giúp giảm chi phí trung gian, nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng giá trị xuất khẩu.
Kết quả của quá trình đổi mới giống thể hiện rõ trong lĩnh vực lúa gạo. Giai đoạn 2016 - 2020 có 57 giống lúa mới được công nhận, tiếp đó giai đoạn 2020 - 2025 bổ sung thêm 53 giống và gia hạn gần 30 giống khác. Đặc biệt, tại Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ sử dụng giống lúa chất lượng cao đã chiếm tới 70 - 80% diện tích canh tác, tạo nền tảng cho việc nâng cao thương hiệu gạo Việt.

Nhờ vậy, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục cải thiện trong những năm gần đây, có thời điểm ngang bằng hoặc vượt các quốc gia xuất khẩu lớn trên thế giới. Nhiều giống gạo đạt giải cao tại các cuộc thi quốc tế, đồng thời hàng trăm giống đã được bảo hộ quyền tác giả, tạo động lực thúc đẩy nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong ngành.
Dù vậy, theo nhận định của các chuyên gia, ngành giống cây trồng vẫn còn không ít hạn chế. Đầu tư nghiên cứu hiện vẫn tập trung chủ yếu vào cây lương thực, trong khi các loại cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và cây lâm nghiệp - những lĩnh vực có tiềm năng xuất khẩu lớn chưa được phát triển tương xứng. Bên cạnh đó, tình trạng vi phạm bản quyền giống vẫn tồn tại, ảnh hưởng đến uy tín thị trường và làm giảm động lực đầu tư của doanh nghiệp.

Song hành với doanh nghiệp và chuyên gia, Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam đang giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối các bên liên quan, từ cơ quan quản lý đến cộng đồng doanh nghiệp. Được thành lập từ năm 2007, hiệp hội đã trở thành diễn đàn chung, tập hợp các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giống cây trồng nhằm thúc đẩy hợp tác và phát triển ngành.
Theo ông Trần Xuân Định, trong suốt quá trình hoạt động, VSTA đã tích cực phản ánh những bất cập trong chính sách, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về trồng trọt và giống cây trồng. Hiệp hội cũng tham gia hòa giải các tranh chấp liên quan đến bản quyền giống giữa các hội viên, qua đó bảo vệ quyền lợi chính đáng và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Trong bối cảnh nhiều biến động như đại dịch Covid-19, thiên tai và bất ổn kinh tế toàn cầu, nhiệm kỳ 2021 - 2025 của hiệp hội vẫn ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Đặc biệt, trong quá trình thực thi Luật Trồng trọt, VSTA đã phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo nhằm tháo gỡ khó khăn, giúp doanh nghiệp thích ứng với quy định mới.
Các vấn đề như công nhận và gia hạn lưu hành giống, cơ chế đối với giống được chọn tạo từ ngân sách nhà nước hay quy định tự công bố lưu hành đã được đưa ra thảo luận tại nhiều diễn đàn. Qua đó, nhiều kiến nghị quan trọng được tiếp thu, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh giống.
Bên cạnh đó, hiệp hội còn tích cực tham gia góp ý sửa đổi các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến khảo nghiệm và chất lượng giống đối với nhiều nhóm cây trồng. Những đóng góp này giúp nâng cao tính minh bạch và đồng bộ trong quản lý, đồng thời đảm bảo chất lượng giống lưu hành trên thị trường.

Một trong những điểm đáng chú ý là vai trò kết nối của VSTA với các cơ quan như Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Thông qua các cuộc đối thoại, nhiều vướng mắc liên quan đến thuế và thủ tục nhập khẩu giống đã được tháo gỡ từng bước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn giống chất lượng cao.
Đáng kể, thủ tục tự công bố lưu hành giống, từng là rào cản đối với nhiều doanh nghiệp đã được đơn giản hóa, giúp thị trường giống, đặc biệt là nhóm cây trồng không thuộc diện chủ lực, vận hành ổn định hơn. Điều này không chỉ giảm áp lực hành chính mà còn mở ra dư địa phát triển cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Có thể thấy, với sự đồng hành của doanh nghiệp, chuyên gia và hiệp hội, ngành giống cây trồng Việt Nam đang từng bước vượt qua thách thức, hướng tới phát triển bền vững. Trong đó, vai trò của những người như ông Trần Xuân Định cùng các tổ chức trung gian tiếp tục là yếu tố quan trọng, giúp kết nối chính sách với thực tiễn và tạo động lực cho toàn ngành bứt phá trong thời gian tới.
Trần Huyền