
Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng chuyển từ cuộc chơi giữa từng doanh nghiệp sang cuộc đua giữa các chuỗi giá trị, doanh nghiệp nhà nước đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mạnh mẽ về vai trò và phương thức hoạt động. Không chỉ bảo toàn nguồn lực, khu vực này được kỳ vọng trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng, làm hạt nhân hình thành các chuỗi giá trị mang thương hiệu Việt và cùng doanh nghiệp tư nhân nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tại tọa đàm "Làm gì để doanh nghiệp nhà nước thực sự dẫn dắt tăng trưởng?" do Báo Nhân Dân tổ chức, bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính, cho biết trong giai đoạn phát triển mới, doanh nghiệp nhà nước phải đảm nhận vai trò lớn hơn trong việc tạo động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Định hướng này được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 79-NQ/TW với mục tiêu đến năm 2030 có từ 1 đến 3 doanh nghiệp Việt Nam nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới và 50 doanh nghiệp thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất châu Á. Cùng với yêu cầu về quy mô, 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cũng phải áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo chuẩn OECD.
Theo bà Thủy, việc tiệm cận các chuẩn mực quản trị quốc tế là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả, tạo nền tảng cho sự phát triển dài hạn và giảm sự phụ thuộc vào những lợi thế mang tính đặc thù.
Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Trường Đại học VinUni, cho rằng Việt Nam đã có những doanh nghiệp có khả năng đóng vai trò đầu tàu, điển hình như Viettel hay Petrovietnam. Các doanh nghiệp này đã xây dựng được năng lực công nghệ và từng bước làm chủ nhiều lĩnh vực quan trọng.
Tuy nhiên, theo ông, số lượng doanh nghiệp nhà nước có khả năng vươn ra thị trường quốc tế vẫn còn hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp chủ yếu hoạt động trong nước, thậm chí một số doanh nghiệp vẫn dựa vào lợi thế độc quyền hoặc vị trí đặc thù trong ngành.
Đây là điểm cần thay đổi nếu muốn thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 79. Doanh nghiệp nhà nước không chỉ cần lớn về quy mô mà phải tạo được năng lực cạnh tranh thực chất, có khả năng mở rộng thị trường, dẫn dắt hệ sinh thái doanh nghiệp và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, cạnh tranh trong nền kinh tế hiện nay không còn diễn ra đơn thuần giữa những doanh nghiệp riêng lẻ mà chuyển sang cạnh tranh giữa các chuỗi giá trị. Trong mỗi chuỗi giá trị, doanh nghiệp hạt nhân giữ vai trò kết nối và kéo theo mạng lưới các nhà cung ứng, doanh nghiệp vệ tinh, hoạt động nghiên cứu, logistics và dịch vụ. Đây cũng là lợi thế mà nhiều tập đoàn quốc tế đã tận dụng khi đầu tư vào Việt Nam.
Theo ông, các tập đoàn FDI thường mang theo hệ thống nhà cung ứng của mình khi bước vào thị trường mới. Vì vậy, không nên đặt kỳ vọng rằng doanh nghiệp FDI sẽ tự động kéo đông đảo doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng. Nếu tham gia, doanh nghiệp trong nước cũng có nguy cơ chỉ đứng ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.
"Chúng ta phải chủ động xây dựng các chuỗi giá trị của chính mình". Muốn làm được điều này, doanh nghiệp nhà nước phải đi trước ở những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn, công nghệ cao, thời gian đầu tư dài hoặc có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế. Do đó, "đây không còn là câu chuyện "nên tiên phong" mà là phải tiên phong, và quan trọng hơn là phải tiên phong thành công", Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh.

Tuy nhiên, vai trò dẫn dắt không đồng nghĩa doanh nghiệp nhà nước phải tự mình thực hiện toàn bộ chuỗi giá trị. Ngược lại, một trong những yêu cầu quan trọng là tạo không gian để doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia, bổ trợ và phát triển.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Nghị quyết 79 và Nghị quyết 68 đang cho thấy một định hướng mới: xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam thống nhất, thay vì duy trì khoảng cách giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.

Nếu hai khu vực tiếp tục phát triển theo những "đường ray" riêng, nguồn lực quốc gia sẽ bị phân tán và khó tạo ra những doanh nghiệp có quy mô đủ lớn để cạnh tranh quốc tế. Ngược lại, khi doanh nghiệp nhà nước đảm nhận vai trò hạt nhân, doanh nghiệp tư nhân phát huy sự linh hoạt và sáng tạo, chuỗi giá trị Việt Nam có thể được củng cố từ bên trong.
Một yếu tố khác được đặt ra là quy mô và sự phân bổ nguồn lực trong khu vực doanh nghiệp nhà nước. Bà Nguyễn Thu Thủy cho biết sau gần 40 năm đổi mới, số doanh nghiệp có vốn nhà nước đã giảm từ khoảng 50.000 xuống còn khoảng 850 doanh nghiệp. Trong đó, khoảng 700 doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp nhà nước khi Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ.

Theo định hướng này, nguồn lực Nhà nước cần được tập trung vào những doanh nghiệp có khả năng đảm nhận nhiệm vụ chiến lược, thay vì phân tán cho quá nhiều đơn vị. Nguồn vốn thu được từ cổ phần hóa, thoái vốn cũng được các chuyên gia đề xuất ưu tiên tái đầu tư cho những doanh nghiệp được xác định có vai trò dẫn dắt.

Cùng với bài toán quy mô và chuỗi giá trị, một vấn đề có tính quyết định đối với khả năng bứt phá của doanh nghiệp nhà nước là cơ chế tạo động lực cho người quản lý. Nghị quyết số 79 đặt ra yêu cầu nghiên cứu cơ chế thưởng theo tỷ lệ đối với phần lợi nhuận vượt kế hoạch. Theo bà Nguyễn Thu Thủy, Bộ Tài chính dự kiến đánh giá bước đầu về phân phối lợi nhuận vào cuối năm 2026, sau đó nghiên cứu, đề xuất cơ chế trong năm 2027.
Theo các chuyên gia, đây không đơn thuần là câu chuyện tiền thưởng mà liên quan trực tiếp tới cách doanh nghiệp nhà nước đưa ra quyết định kinh doanh. Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh cho rằng đây là bài toán "chủ sở hữu - người đại diện".
Trong doanh nghiệp tư nhân, lợi ích của người điều hành thường gắn với quyền sở hữu. Còn tại doanh nghiệp nhà nước, mối liên hệ này cần được thiết lập thông qua thể chế. Nếu người quản lý phải chịu trách nhiệm rõ ràng khi thất bại nhưng không có cơ chế hưởng lợi tương xứng khi thành công, tâm lý lựa chọn phương án an toàn sẽ khó tránh khỏi.
Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh dẫn trường hợp một hãng hàng không trong nước từng sử dụng công cụ phòng ngừa rủi ro giá nhiên liệu. Khi thị trường diễn biến trái dự báo, doanh nghiệp chịu thiệt hại và những người thực hiện bị xử lý.

Những thay đổi pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước, có hiệu lực từ tháng 8/2025, đã bước đầu tháo gỡ một số rào cản. Việc bảo toàn, phát triển vốn được xem xét trên tổng thể danh mục đầu tư thay vì từng dự án riêng lẻ. Chi phí dành cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao cũng được tách khỏi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh thông thường.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, giảm rủi ro khi thất bại mới chỉ là điều kiện cần. Muốn người quản lý thực sự có động lực đột phá, phải có cả cơ chế ghi nhận khi thành công. Tiến sĩ, Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, dẫn Viettel là trường hợp đáng nghiên cứu. Từ một đơn vị xây lắp, doanh nghiệp này phát triển thành tập đoàn viễn thông và tiến tới lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao. Theo ông, Viettel đã tạo được sự gắn kết giữa sứ mệnh doanh nghiệp với sứ mệnh quốc gia, đồng thời hình thành văn hóa và tinh thần cống hiến.
Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh bổ sung yếu tố kỷ luật quân đội là một đặc điểm quan trọng của Viettel, song đây lại là điều không dễ nhân rộng cho toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước. Theo Tiến sĩ, Nguyễn Đình Cung, những mô hình thành công cần được nghiên cứu dựa trên bằng chứng cụ thể để xác định đâu là yếu tố tạo nên kết quả và đâu là điều kiện có thể thể chế hóa. "Luôn luôn phải có bằng chứng mới thuyết phục được", ông Cung nhấn mạnh.
Mục tiêu đưa từ 1 đến 3 doanh nghiệp Việt Nam vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới vào năm 2030 đặt ra yêu cầu rất cao. Để tiến gần mục tiêu này, doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dựa vào việc mở rộng quy mô mà phải tạo ra năng lực cạnh tranh mới, làm chủ công nghệ, xây dựng chuỗi giá trị và phát triển thị trường quốc tế.

Trong quá trình đó, tái cơ cấu nguồn lực, cải thiện quản trị và xây dựng cơ chế thưởng gắn với hiệu quả cần được triển khai đồng thời. Khi người quản lý được trao đủ quyền, được bảo vệ hợp lý trước rủi ro kinh doanh và có cơ chế hưởng lợi tương xứng với kết quả tạo ra, doanh nghiệp nhà nước sẽ có thêm động lực để đổi mới và bứt phá.
Đó cũng là nền tảng để khu vực doanh nghiệp nhà nước thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt, kết nối với doanh nghiệp tư nhân, hình thành các chuỗi giá trị mang thương hiệu Việt và đưa doanh nghiệp Việt Nam bước vào cuộc cạnh tranh toàn cầu với vị thế chủ động hơn.
Trần Huyền