
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của biến động kinh tế, địa chính trị, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, logistics ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi nền kinh tế. Đây cũng là chủ đề xuyên suốt tại Diễn đàn Logistics kết nối các khu vực với chủ đề "Tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu - Cơ hội mới cho logistics Việt Nam" do Bộ Công Thương tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 24/7/2026.

Phát biểu khai mạc diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng nhận định quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, logistics không chỉ đảm nhiệm vai trò vận chuyển hàng hóa mà còn là nền tảng quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và gia tăng khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo Thứ trưởng, Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế nổi bật để trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới logistics khu vực nhờ vị trí địa lý chiến lược, hệ thống cảng biển tiếp tục được đầu tư mở rộng cùng mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Tuy nhiên, để biến những lợi thế này thành động lực tăng trưởng thực chất, cần tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng logistics, xây dựng các trung tâm logistics hiện đại, phát triển logistics xanh, thúc đẩy chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và tăng cường liên kết giữa các vùng kinh tế cũng như các phương thức vận tải.

Nhấn mạnh mục tiêu phát triển của nền kinh tế, Thứ trưởng Phan Thị Thắng cho biết Chính phủ đặt quyết tâm đạt mức tăng trưởng tối thiểu 10% trong năm 2026, trong đó xuất nhập khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng. Theo đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu được kỳ vọng tăng khoảng 8% so với năm 2025, riêng xuất khẩu hướng tới mức tăng từ 15-16%.
Những con số của nửa đầu năm 2026 cho thấy tiềm năng tăng trưởng rất lớn. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đã đạt gần 550 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh khả năng thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trước những biến động của thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, quy mô thương mại càng mở rộng thì yêu cầu đối với hệ thống logistics càng trở nên cấp thiết.
"Năng lực logistics không chỉ quyết định tốc độ lưu chuyển hàng hóa mà còn quyết định khả năng thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và vị thế của mỗi quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu", Thứ trưởng Phan Thị Thắng nhấn mạnh.

Từ góc nhìn của doanh nghiệp toàn cầu, nhiều chuyên gia cho rằng quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng đang mở ra cơ hội lớn để Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực logistics và hạ tầng cảng biển. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Giám đốc Đối ngoại khu vực Mekong, Tập đoàn Maersk, cho biết các doanh nghiệp logistics quốc tế hiện không còn chỉ xem xét từng dự án đơn lẻ mà đánh giá tổng thể hệ sinh thái logistics của một quốc gia trước khi đưa ra quyết định đầu tư.
"Lợi thế nổi bật của Việt Nam nằm ở mức độ kết nối toàn cầu và khả năng tiếp cận thị trường. Với vị trí chiến lược tại châu Á, các tuyến hàng hải kết nối Mỹ, châu Âu và nội Á, cùng sự liên kết với ASEAN, tiểu vùng Mekong và mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do, Việt Nam đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu", bà Hằng nhận định.
Theo đại diện Maersk, Việt Nam hiện đã trở thành một trung tâm sản xuất và xuất khẩu quan trọng của châu Á. Tuy nhiên, để nâng cao năng lực cạnh tranh với những trung tâm trung chuyển lớn như Singapore, Thượng Hải, Malaysia hay Hồng Kông, ngành logistics cần tiếp tục phát triển theo hướng đa phương thức, tăng tốc chuyển đổi số, đẩy mạnh logistics xanh và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Bà Nguyễn Thị Thu Hằng cũng cho rằng các tập đoàn quốc tế ngày càng quan tâm đến khả năng kết nối giữa cảng biển, cảng sông, đường thủy nội địa, hạ tầng logistics hiện đại và hệ thống hải quan số. Việc xây dựng một hệ sinh thái logistics tích hợp sẽ góp phần tối ưu chi phí vận chuyển và nâng cao hiệu quả lưu thông hàng hóa xuyên biên giới.
“Việc kết nối cảng biển, sân bay với khu thương mại tự do và khu công nghệ cao cũng được xem là yếu tố giúp tối ưu chi phí và khai thác hiệu quả các luồng thương mại xuyên biên giới. Ngoài ra, độ tin cậy của chuỗi cung ứng, cùng một môi trường đầu tư ổn định với chính sách nhất quán, thủ tục thuận lợi và khung pháp lý có tính dự báo cao, cũng là những tiêu chí được các doanh nghiệp quốc tế đặc biệt quan tâm”, bà Hằng nhận định.
Đồng quan điểm, ông Jian Dan, Trưởng bộ phận Đầu tư và Phát triển khu vực châu Á và Trung Đông, APM Terminals, đánh giá Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực cảng biển và logistics nhờ xu hướng dịch chuyển sản xuất theo chiến lược "China+1".
"Sức hấp dẫn của nền kinh tế cùng xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng theo chiến lược "China+1" đang thúc đẩy dòng vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất, tạo nền tảng cho nhu cầu phát triển cảng nước sâu và logistics", ông Jian Dan đánh giá.
Theo ông, công tác quy hoạch ngày càng được hoàn thiện đã góp phần nâng cao niềm tin của nhà đầu tư. Minh chứng là sau khi quy hoạch Cảng Liên Chiểu được điều chỉnh theo hướng lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, dự án đã thu hút sự quan tâm của nhiều tập đoàn lớn.
Ông Jian Dan nhấn mạnh: “Việc nâng cao tính minh bạch trong quy trình lựa chọn nhà đầu tư là một yếu tố quan trọng giúp tăng niềm tin của các doanh nghiệp quốc tế. Do đó, cần có sự phối hợp giữa Nhà nước và khu vực tư nhân để xây dựng cơ chế phù hợp, vừa hỗ trợ phát triển logistics, vừa bảo đảm hiệu quả đầu tư”.

Bên cạnh cơ hội thu hút đầu tư, nhiều doanh nghiệp trong nước cho rằng hạ tầng logistics vẫn còn những điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ nếu muốn tận dụng hiệu quả làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng. Ông Lê Kim Cương, Phó Giám đốc Trung tâm dịch vụ logistics, Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, cho biết doanh nghiệp hiện vận chuyển khối lượng lớn container giữa các cảng biển và hệ thống ICD. Tuy nhiên, năng lực khai thác của nhiều cảng cạn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
Theo ông, vào các thời điểm cao điểm, hàng hóa từ cảng Cái Mép vận chuyển về ICD có thể mất từ 3-5 ngày, kéo theo chi phí logistics gia tăng và ảnh hưởng đến hiệu quả chuỗi cung ứng. Trong khi đó, việc đầu tư các ICD mới còn gặp nhiều trở ngại do hạn chế về quỹ đất cũng như cơ hội đầu tư.
Để khắc phục tình trạng này, doanh nghiệp kiến nghị TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai cùng các địa phương liên quan sớm triển khai các ICD đã được quy hoạch, đồng thời ưu tiên phát triển hệ thống cảng cạn dọc sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và kết nối với các công trình hạ tầng trọng điểm như Vành đai 3, Vành đai 4 và cao tốc Bến Lức - Long Thành.
Theo ông Lê Kim Cương, khi các cảng lớn như Cái Mép - Thị Vải và Cần Giờ tiếp tục mở rộng, việc phụ thuộc quá nhiều vào vận tải đường bộ sẽ tạo áp lực lớn lên hệ thống giao thông. Trong khi đó, lợi thế về mạng lưới sông ngòi tại khu vực Đông Nam Bộ hoàn toàn có thể được khai thác để phát triển vận tải thủy và ICD đường thủy, qua đó giảm chi phí logistics, hạn chế ùn tắc và cắt giảm phát thải.

Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Vương Tuấn Nam, Phó Trưởng ban Giám sát quản lý về hải quan (Bộ Tài chính), cho rằng cải cách thủ tục hành chính cũng quan trọng không kém việc đầu tư hạ tầng. Khi thời gian xử lý thủ tục được rút ngắn, thời gian lưu thông hàng hóa sẽ giảm theo, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo ông Vương Tuấn Nam, ngành hải quan đang xây dựng nền hành chính trên nền tảng số theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, đồng thời nghiên cứu bổ sung các mô hình logistics và phương thức vận tải mới vào dự thảo Luật Hải quan cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn.
Ông Vương Tuấn Nam cho biết đây sẽ là nền tảng pháp lý quan trọng để thúc đẩy vận tải đa phương thức, kết nối hiệu quả giữa đường bộ, đường sắt, đường biển, sân bay, cảng biển, khu logistics, khu thương mại tự do và khu phi thuế quan trên cơ sở quy trình thủ tục thống nhất.
Các ý kiến tại diễn đàn đều thống nhất rằng, cơ hội để logistics Việt Nam bứt phá đang hiện hữu khi chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái định hình. Tuy nhiên, để biến lợi thế địa lý và tăng trưởng thương mại thành năng lực cạnh tranh bền vững, Việt Nam cần đồng thời giải quyết các nút thắt về hạ tầng, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển logistics xanh và xây dựng hệ sinh thái logistics hiện đại có khả năng kết nối sâu với mạng lưới thương mại quốc tế.
Trần Huyền