
Chiều 30/9/2026, mưa lớn trùng lúc triều cường tại TP Hồ Chí Minh. Trên đường Phan Huy Ích, có đoạn nước ngập hơn một mét, tràn vào xe buýt, hàng quán và nhà dân. Đến sáng hôm sau, một số đoạn vẫn chưa hết nước. Những hình ảnh được VnExpress ghi nhận cho thấy cuộc trở về thường ngày đã trở thành một hành trình mắc kẹt.
Trước đó, ngày 16/6, trên đường Quốc Hương, phường An Khánh, người dân phải dắt xe qua đoạn ngập trước Trường đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh. Sinh viên Nguyễn Minh Anh, 20 tuổi, chia sẻ với Tuổi Trẻ rằng tuyến đường thường ngập vào mùa mưa, người đi đường phải nhích chậm vì lo trơn trượt.
Hai thời điểm, hai tuyến đường, cùng một nỗi bất an: mưa xuống, việc về nhà có còn bình thường?

Một tuyến phố bị ngập có thể xuất hiện trên báo cáo bằng tên đường, độ sâu, thời gian nước rút. Trong đời sống, nó còn là giờ đón con, chuyến hàng phải giao, cuộc hẹn bị lỡ. Những khoản tổn thất ấy cần được khảo sát và tính toán, bởi người dân trả giá cho ngập bằng cả tiền bạc lẫn thời gian.
Ở phía Bắc, nước cũng giữ người dân trong một nhịp sống chậm chạp khác. Theo ghi nhận của Sài Gòn Giải Phóng ngày 23/9, dù trời đã nắng, nhiều khu dân cư ven sông Bùi tại các xã Trần Phú, Quảng Bị, Hà Nội vẫn ngập sâu. Có đoạn đường phải đi bằng thuyền; việc tiếp cận thực phẩm, nước uống, thuốc men gặp khó khăn. Căn nhà của bà Phạm Thị Lài, 59 tuổi, ở thôn Mỹ Tiến, xã Trần Phú, nằm trong những ngôi nhà chịu ngập nhiều ngày.
Giữa một con phố phải chờ nước rút và một khu dân cư còn ngập khi nắng đã lên, nguyên nhân và cách xử lý có thể khác nhau. Nhưng đích đến của chống ngập phải gặp nhau ở một điều: người dân sớm được trở lại sinh hoạt an toàn.

Trong nhiều năm qua, TP Hồ Chí Minh đã dành nguồn lực lớn cho thoát nước và chống ngập: đầu tư hệ thống cống, cải tạo kênh rạch, triển khai công trình kiểm soát triều và chỉnh trang đô thị; đồng thời nghiên cứu, bổ sung các giải pháp điều tiết nước. Đó là những bước đi cần thiết của một đô thị chịu sức ép từ mưa lớn và thủy triều. Tuy nhiên, thực tế ngập sau mưa cho thấy khoảng cách giữa đầu tư và hiệu quả người dân cảm nhận vẫn cần được giải quyết.
Khoảng chờ ấy thể hiện rõ ở dự án giải quyết ngập do triều có tổng mức đầu tư ban đầu gần 10.000 tỷ đồng. Khởi công năm 2016, công trình nhiều lần đình trệ vì vướng mắc pháp lý và phương án thanh toán. Theo thông tin ngày 18/9/2026, tiến độ chung đạt khoảng 95%; nhà đầu tư đặt mục tiêu bàn giao trong tháng 11. Đây vẫn là mục tiêu, chưa phải kết quả hoàn thành.
Với người làm dự án, những phần trăm còn lại là hạng mục, thiết bị, thủ tục, nghiệm thu. Với cư dân trong vùng cần bảo vệ, đó là khoảng thời gian vẫn phải theo dõi mưa và triều.
Một hệ thống chỉ phát huy đầy đủ tác dụng khi các bộ phận được kết nối và vận hành phù hợp. Cống ngăn triều có nhiệm vụ hạn chế nước sông xâm nhập; theo thiết kế dự án, khi mực nước ngoài sông thấp hơn phía trong, cửa van mở để thoát nước. Hiệu quả vì thế gắn với điều kiện mực nước và mạng lưới tiêu thoát trong phạm vi bảo vệ.
Bởi vậy, không thể lấy một công trình kiểm soát triều làm lời giải cho mọi điểm ngập do mưa trên toàn thành phố. Cũng không thể chỉ nhìn một con đường còn ngập để phủ nhận toàn bộ công sức đầu tư. Điều cần làm là xác định đúng nơi nào còn thiếu kết nối, nơi nào bị cản dòng, nơi nào chưa đủ khả năng trữ và tiêu nước.
Trường hợp Phan Huy Ích cho thấy một vấn đề rất cụ thể. Theo cơ quan chuyên môn được VnExpress dẫn lại, vật liệu nạo vét tập kết trong lòng kênh Tham Lương làm thu hẹp dòng chảy. Khi mưa lớn, nước kênh dâng, chảy ngược vào hệ thống cống và giảm khả năng thoát nước. Đây là một trong các yếu tố góp phần gây ngập trong đợt 30/9.

Một công trình hướng tới giảm ngập về lâu dài vẫn có thể gây trở ngại trước mắt nếu phương án thi công chưa giữ được đường thoát nước. Từ thực tế đó, yêu cầu bảo đảm dòng chảy tạm, kiểm soát nơi tập kết vật liệu và xử lý kịp thời điểm nghẽn cần trở thành phần việc được giám sát trong suốt quá trình xây dựng.
Ở Hà Nội, kết quả đầu tư cũng cần được nhìn nhận bằng từng trận mưa và từng khu vực. Báo Điện tử Chính phủ ghi nhận ngày 28/7 rằng một số điểm từng thường xuyên ngập như ngõ 42 Giang Văn Minh, La Pho – Cống Đõ, Phú Xá không bị ngập trong đợt mưa đó; các hồ điều hòa và bể chứa đã được đưa vào vận hành.
Đến chiều 17/9, theo Công ty Thoát nước Hà Nội, vẫn còn 19 vị trí úng ngập trong phạm vi đơn vị quản lý. VnExpress ghi nhận nước còn đọng trên Doãn Kế Thiện, Dương Đình Nghệ và một số tuyến khác dù mưa đã ngừng.
Những kết quả này nhắc rằng chống ngập cần được đánh giá liên tục. Một trận mưa vượt qua tương đối thuận lợi là dấu hiệu đáng ghi nhận; những lần ngập tiếp theo là dữ liệu để tìm phần hệ thống còn yếu.

“Hệ thống cống không thể mở rộng vô hạn.” Nhận định của GS.TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu cấp thoát nước và môi trường, được Hà Nội Mới đăng ngày 2/6, gợi mở một cách tiếp cận khác. Theo ông, đô thị cần tăng khả năng giữ nước và điều tiết nước, kết hợp cống, hồ điều hòa, bể chứa ngầm cùng những không gian có thể lưu giữ nước mưa. [8]
Điều đó đưa bài toán chống ngập ra khỏi phạm vi một tuyến cống. Một công viên, bãi đỗ xe hay khoảng sân công cộng có thể được nghiên cứu thêm chức năng điều tiết. Nhưng khả năng ấy phải được tính toán trong thiết kế, có dung tích, đường dẫn nước, phương án thoát và đơn vị chăm sóc, vận hành.
Một mặt hồ đẹp về cảnh quan chưa đủ để kết luận nó có thể giảm ngập cho khu vực xung quanh. Câu hỏi cần trả lời là hồ nhận nước từ đâu, còn bao nhiêu dung tích trước trận mưa, và sau đó nước được đưa đi bằng cách nào.
Từ góc độ quy hoạch, ông Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, đề nghị coi sông, kênh rạch, vùng ngập nước và không gian xanh là hạ tầng chống chịu tự nhiên. Trao đổi được Tiền Phong đăng ngày 14/9, ông nhấn mạnh việc xác định nơi cần giữ nước, nơi có thể phát triển và nơi cần hạn chế đô thị hóa.
Trăn trở vì thế nằm ở những quyết định diễn ra trước mùa mưa: một khu đất sẽ được xây dựng đến mức nào, dòng nước hiện hữu có được giữ lại, dự án mới có tính đến khu dân cư thấp hơn ở phía bên cạnh hay không?
Theo ông Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, quy hoạch TPHCM cần tính đến khả năng ứng phó với các cú sốc tương lai như biến đổi khí hậu, nước biển dâng… Sông, kênh rạch, vùng ngập nước, không gian xanh và hành lang sinh thái cần được xem là hạ tầng chống chịu tự nhiên của đô thị, góp phần kiểm soát ngập, điều hòa khí hậu và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Kinh nghiệm của Singapore cung cấp một khung tham khảo. Hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan quản lý nước PUB tiếp cận nước mưa từ ba khâu: nơi phát sinh dòng chảy, đường dẫn nước và nơi có thể chịu ngập. Giữ nước tại chỗ, cải thiện cống kênh và bảo vệ công trình được đặt trong cùng một hệ thống. Tài liệu cũng yêu cầu tính đến vận hành, kiểm tra, bảo dưỡng các bể điều tiết. [10]
Đối với đô thị Việt Nam, giá trị tham khảo nằm ở cách đặt câu hỏi cho toàn bộ hành trình của nước. Muốn áp dụng một giải pháp cụ thể, vẫn cần khảo sát điều kiện địa phương và chứng minh hiệu quả bằng tính toán.
Giữ nước cũng không có nghĩa để khu dân cư ngập. Mục tiêu là dành cho nước những nơi có thể tiếp nhận một cách có kiểm soát, giảm lượng nước dồn đồng thời vào mạng lưới cống, rồi tiêu thoát khi điều kiện phù hợp.

Chống ngập lâu dài còn là câu chuyện của những người sống ven kênh, trong hẻm thấp, cạnh công trường và ở vùng trũng. Mỗi quyết định mở rộng dòng chảy, xây kè hay chỉnh trang đều có thể gắn với việc thu hồi đất, di dời, thay đổi nơi ở và sinh kế.
Thông tin được Cổng thông tin HĐND TP Hồ Chí Minh công bố tháng 5/2026 cho biết thành phố đặt mục tiêu di dời tối thiểu 20.000 căn nhà ven sông, kênh, rạch đến năm 2030. Đây là mục tiêu chỉnh trang, chưa phải số hộ đã di dời.
Đằng sau quy mô đó cần có những phương án đủ cụ thể cho từng gia đình: nơi ở mới, khả năng tiếp tục công việc, đường đến trường của trẻ em, chi phí đi lại và những hỗ trợ trong thời gian chuyển tiếp. Tiến độ giải phóng mặt bằng có ý nghĩa, nhưng khả năng ổn định cuộc sống sau di dời cũng phải được theo dõi.
Trong khi chờ những công trình dài hạn, an toàn trước mắt cần được bảo đảm bằng các biện pháp rõ ràng. Hầm chui, đường ngập sâu, vị trí có dòng chảy mạnh hay công trường gần khu dân cư phải được nhận diện, cảnh báo và kiểm soát tiếp cận khi có nguy hiểm.
Vụ một nam sinh tử vong sau khi ngã xuống cống ở khu vực Đông Ngạc, Hà Nội trong tháng 9, được VOV thông tin, cho thấy ngập có thể đi cùng rủi ro đe dọa tính mạng. Việc làm rõ trách nhiệm đã được thành phố yêu cầu.
Sự an toàn ấy không thể đợi đến ngày nghiệm thu dự án. Nó cần hiện diện ngay trong phương án ứng trực, phân luồng, rào chắn, cứu hộ và thông tin tới người dân.

Một bản tin nói khu vực sẽ có mưa lớn cần đi thêm bước nữa: tuyến nào có nguy cơ ngập, đoạn nào nên tránh, hầm chui nào tạm dừng lưu thông, người dân có thể tìm hỗ trợ ở đâu. Những thông tin có thể sử dụng ngay sẽ giúp người dân chủ động hơn trước một tình huống mà họ không tự quyết định được.
Với vùng ven sông như sông Bùi, cách ứng phó phải tính đến mực nước sông, bảo vệ dân cư và khả năng tiếp cận các nhu cầu thiết yếu. Với ngập mưa nội đô, trọng tâm có thể là miệng thu, cống, hồ, bơm và giao thông. Phân biệt những dạng ngập giúp lựa chọn đúng biện pháp, thay vì gom mọi tình huống vào một lời giải chung.
Những bước đi hiện nay cho thấy Hà Nội đang từng bước nâng cao năng lực chống chịu của hạ tầng đô thị trước biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn hẹp, tốc độ đô thị hóa cao và lượng mưa có xu hướng gia tăng, mở rộng hệ thống thoát nước theo cách truyền thống sẽ không còn là giải pháp duy nhất.
Chuyển từ tư duy chống ngập cục bộ sang xây dựng một đô thị có khả năng thích ứng, trữ nước và phục hồi nhanh trước các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể sẽ là hướng đi lâu dài để Hà Nội giải quyết bài toán ngập úng trong những thập niên tới.
Theo GS.TS Trần Đức Hạ, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu cấp thoát nước và môi trường, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, Hà Nội cần thay đổi cách tiếp cận đối với bài toán thoát nước đô thị.

Theo vị chuyên gia này, nhiều đô thị trên thế giới đã chuyển sang mô hình "thành phố bọt biển" (Sponge City), trong đó nước mưa được giữ lại, thẩm thấu hoặc tái sử dụng thay vì nhanh chóng đưa ra khỏi thành phố.
Tuy nhiên, để hình thành một "thành phố bọt biển" đúng nghĩa là câu chuyện dài hạn. Trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội cần nghiên cứu thoát nước trên quy mô toàn vùng, kết hợp đồng bộ giữa hệ thống cống, hồ điều hòa, bể chứa ngầm và các không gian có khả năng lưu giữ nước mưa.
"Các khu vực như công viên, bãi đỗ xe hoặc những khoảng không gian công cộng khác hoàn toàn có thể được nghiên cứu để tham gia vào quá trình giữ nước, bổ cập nước ngầm hoặc tái sử dụng cho các hoạt động đô thị", GS.TS Trần Đức Hạ đề xuất.

Kế hoạch chống ngập TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2026–2030 vừa được công bố dự kiến triển khai 87 dự án, tổng mức đầu tư hơn 142.000 tỷ đồng, hướng tới xử lý 50 vị trí ngập. Con số này phản ánh quy mô đầu tư dự kiến trong kế hoạch, không phải khoản tiền đã chi hay số điểm đã hết ngập. [12]
Đáng chú ý, kế hoạch đặt ra việc rà soát những đoạn cống bị thu hẹp, vị trí mất độ dốc do sụt lún, bồi lắng và cửa xả chịu ảnh hưởng của triều. Thành phố cũng định hướng liên thông dữ liệu mưa, triều, mực nước và công trình để hỗ trợ vận hành. [12]
Hà Nội, theo thông tin công bố ngày 5/10, xác định 220 điểm úng ngập trên địa bàn. Đề án xử lý úng ngập nội thành giai đoạn 2026–2030 đã được trình ngày 30/9 để xem xét phê duyệt. Những dữ liệu và bước chuẩn bị ấy cần được chuyển thành thứ tự ưu tiên, trách nhiệm thực hiện và kết quả có thể kiểm chứng. [13]
Không nên so trực tiếp số điểm ngập của hai thành phố như một bảng xếp hạng. Phạm vi thống kê, điều kiện địa hình và cách xác định điểm ngập khác nhau. Điều người dân cần biết là khu vực mình sống được xử lý bằng giải pháp nào, trong thời hạn nào, và sẽ được bảo vệ ra sao trong lúc chờ đợi.
Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Quân - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (ICED), Đại học Quốc gia TP.HCM cho biết, bài toán ngập lụt của TP.HCM thời gian qua không chỉ là vấn đề riêng của TP.HCM hay các thành phố lớn ở Việt Nam, mà còn là thách thức của các đô thị quy mô khác nhau trên thế giới, bao gồm cả các quốc gia phát triển và đang phát triển.
Kể cả khi thực hiện xong, giải pháp đó vẫn chưa đảm bảo giảm ngập 100% vì tập trung nhiều vào yếu tố ngăn triều từ bên ngoài vào. Còn bài toán thoát nước bên trong phạm vi của công trình ngăn triều. Nên phải khẳng định, cống ngăn triều không phải là giải pháp toàn diện.
Thứ hai, các giải pháp này hiện vẫn chưa đi vào vận hành thực tế hoàn chỉnh để có thể đánh giá chính xác tính hiệu quả. Một hệ thống vận hành ổn định đòi hỏi kết nối đồng bộ giữa công trình ngăn triều, trạm bơm, đê bao và hệ thống thoát nước bên trong.
Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục có những giải pháp căn cơ, sâu rộng hơn. Tôi nghĩ Sở Xây dựng đã nhận thấy các vấn đề này và có những tín hiệu rất tích cực thông qua việc lập Đề án.
Đây là bài toán rất lớn và đầy thách thức mà hầu như tất cả các thành phố đã và đang gặp phải. Việc TP.HCM “loay hoay” trong nhiều năm qua liên quan đến vấn đề này cũng là điều đa phần các đô thị đều gặp phải.

Do đó, trong khuôn khổ Đề án vừa đề cập, việc áp dụng nguyên tắc “Giữ - Trữ - Thoát” là cách tiếp cận rất phù hợp, đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Đặc biệt là các quốc gia có nghiên cứu rất sâu và có thế mạnh về quản lý nước, quản lý ngập lụt như Hà Lan, Đức, Anh, Úc, Trung Quốc... Nội hàm ban đầu của Đề án cho thấy nhiều tín hiệu rất tích cực.
Một trong những định hướng chiến lược của Đề án chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2026 - 2060 cùng Kế hoạch chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2026 - 2036 là ưu tiên cách tiếp cận hiện đại, trong đó hạ tầng xám như cống, đê bao, trạm bơm, cống ngăn triều và nhà máy xử lý nước thải được kết hợp với hạ tầng xanh, hạ tầng xanh – dương và giải pháp dựa vào thiên nhiên như hồ điều hoà, không gian trữ nước, bề mặt thấm, phục hồi kênh rạch, vùng trũng sinh thái và cảnh quan mặt nước đô thị. Quan điểm này giúp tăng khả năng điều tiết nước, giảm áp lực cho hệ thống cống, nâng cao chất lượng môi trường và tăng sức chống chịu của đô thị trước các điều kiện cực đoan.
Bên cạnh đó, xây dựng Chiến lược quản lý rủi ro ngập (Flood Risk Management – FRM) giai đoạn 2026-2060, bao gồm các hợp phần: bảo vệ phòng lũ, giảm phơi lộ và nhạy cảm, tăng cường ứng phó và phục hồi; xác định phân vùng rủi ro ngập theo mức độ ưu tiên và đề xuất định hướng kiểm soát ngập và các lưu vực thoát nước chính trên địa bàn Thành phố.
Một cách theo dõi hiệu quả đáng cân nhắc là công bố kết quả theo từng lưu vực và nhóm trận mưa tương đồng: độ sâu giảm bao nhiêu, nước rút nhanh hơn thế nào, còn bao nhiêu hộ bị ảnh hưởng. Tiến độ xây dựng khi ấy được đặt cạnh tiến độ cải thiện đời sống.

Nếu một tuyến đường vẫn ngập sau khi công trình liên quan hoàn thành, cần có quá trình kiểm tra nguyên nhân và thông tin kết quả. Nếu xuất hiện điểm ngập mới quanh công trường, cần xác định biện pháp xử lý tạm thời và đơn vị chịu trách nhiệm. Sự minh bạch giúp những lời hẹn có cơ sở để được đánh giá.
Nguồn lực cho duy tu cũng cần được coi là phần thiết yếu của đầu tư. Công trình đã xây xong vẫn cần người vận hành, thiết bị được kiểm tra, cửa thu được giữ thông thoáng và dòng chảy được bảo vệ. Bản vẽ chỉ trở thành một hệ thống hoạt động khi những công việc thường xuyên ấy được thực hiện.
Trên đường Quốc Hương, mong muốn trước mắt có thể là một chuyến đi học không phải dắt xe qua nước. Ở khu dân cư ven sông Bùi, đó là sớm có lại lối đi an toàn và điều kiện sinh hoạt bình thường. Những nhu cầu cụ thể ấy nên dẫn đường cho việc xác định ưu tiên.
Chống ngập lâu dài đòi hỏi tầm nhìn nhiều năm. Nhưng niềm tin được tạo dựng qua từng mùa mưa, bằng những thay đổi người dân có thể nhận ra: đoạn đường ít nguy hiểm hơn, nước rút sớm hơn, ngôi nhà được bảo vệ tốt hơn.
Ngày công trình hoàn thành là một mốc quan trọng. Ngày người dân có thể yên tâm trở về nhà sau mưa mới là kết quả mà các khoản đầu tư ấy hướng tới.

Hoàng Việt