Những trận mưa lớn đã qua nhưng nước vẫn nằm lại nhiều ngày ở những vùng thấp phía Tây Hà Nội. Sông Tích, sông Bùi xuống chậm, nhiều khu dân cư ven sông chưa hết ngập, trong khi phía sau những con số thiệt hại là một vấn đề đã tồn tại nhiều năm: nước từ vùng cao đổ xuống một lưu vực thấp trũng nhưng khả năng chứa, dẫn và thoát nước chưa theo kịp. Cuộc họp sáng 23/9 do Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng chủ trì vì thế không chỉ tìm cách tiêu nước cho một đợt lũ, mà đặt ra yêu cầu tìm lời giải tổng thể cho cả hệ thống Tích - Bùi - Đáy và tương lai phát triển phía Tây Thủ đô.
Sáng 23/9, nhiều ngày sau khi đợt mưa lớn kết thúc, một số khu vực phía Tây Hà Nội vẫn chưa thoát khỏi tình trạng ngập úng. Nước trên sông Tích, sông Bùi đã qua đỉnh nhưng xuống chậm, khiến cuộc sống của người dân tại những vùng thấp ven sông tiếp tục bị đảo lộn.
Một ngày trước đó, tại xóm Bến Vôi, thôn Cấn Hạ, xã Kiều Phú, con đường dẫn vào khu dân cư vẫn còn ngập khoảng 40 cm. Nhiều đoạn đường bị nước bao quanh, người dân phải sử dụng thuyền để đi lại. Nước rút đến đâu, người dân tranh thủ trở về dọn dẹp nhà cửa đến đó, rồi tiếp tục chờ khi điều kiện an toàn hơn mới có thể trở lại cuộc sống bình thường.
Tại nhiều khu vực thuộc lưu vực sông Bùi, tình trạng tương tự kéo dài dù những ngày 21-22/9 Hà Nội hầu như không còn mưa đáng kể. Sông Bùi xuống chậm và vẫn ở mức cao, khiến các địa phương phải duy trì lực lượng ứng trực, hỗ trợ những hộ còn bị cô lập, cung cấp nước sạch và nhu yếu phẩm cho người dân vùng ngập.
Chính trong bối cảnh đó, sáng 23/9, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng chủ trì cuộc họp về tình hình và giải pháp tiêu lũ sông Tích, sông Bùi. Cuộc họp được kết nối trực tuyến tới 14 xã, phường liên quan, với sự tham gia của các sở, ngành và đơn vị quản lý thủy lợi.

Điều được người đứng đầu chính quyền thành phố đặt ra không chỉ là làm thế nào đưa nước ra khỏi những ngôi làng đang ngập. Hà Nội cần trả lời một câu hỏi lớn hơn: Vì sao tình trạng ngập kéo dài vẫn lặp lại ở phía Tây và phải tổ chức lại hệ thống phòng, chống lũ như thế nào để giải quyết vấn đề từ gốc?
Câu hỏi ấy càng trở nên cấp thiết khi phía Tây được Hà Nội xác định là một trong những không gian phát triển quan trọng trong tương lai. Nếu bài toán nước không được giải quyết trước, quá trình phát triển hạ tầng, đô thị, công trình ngầm và đường sắt đô thị có nguy cơ phải đối diện với chính những điểm yếu thủy văn đang bộc lộ sau mỗi trận lũ lớn.

Muốn lý giải tình trạng ngập phía Tây Hà Nội, trước hết cần phân biệt giữa thời gian xuất hiện mưa lớn, thời điểm lũ đạt đỉnh và khoảng thời gian nước lưu lại tại vùng trũng. Đây là ba giai đoạn liên quan nhưng không đồng nhất.
Đợt mưa gây lũ diễn ra từ trung tuần tháng 9 và kéo dài nhiều ngày. Nước từ thượng nguồn cùng lượng mưa tại chỗ khiến các sông trong hệ thống phía Tây đồng loạt dâng cao. Theo số liệu được báo cáo tại cuộc họp ngày 23/9, sông Tích tại Kim Quan đạt đỉnh 9,12 m; sông Bùi tại Yên Duyệt vượt 7,8 m; sông Mỹ Hà khoảng 6,1 m. Nhiều tuyến bờ bao bị tràn khi mực nước vượt khả năng chống chịu của hệ thống hiện hữu.
Riêng sông Bùi, đỉnh lũ tại Yên Duyệt ngày 19/9 đạt 7,88 m. Đây là con số đặc biệt đáng chú ý đối với những vùng thấp thuộc khu vực Chương Mỹ cũ. Chủ tịch UBND xã Xuân Mai Nguyễn Anh Đức cho biết phạm vi bị ảnh hưởng tại địa phương lên tới khoảng 1.400 ha, có những khu dân cư ngập sâu gần 2 m. Đỉnh lũ lần này cũng cao hơn mức 7,51 m được ghi nhận năm 2018.
Tuy nhiên, điều khiến đợt ngập trở nên đáng chú ý không chỉ nằm ở độ cao của đỉnh lũ mà còn ở tốc độ rút nước rất chậm.
Đến sáng 23/9, nhiều ngày sau khi lũ đạt đỉnh, một số khu vực vẫn còn ngập. Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng nhận định tình trạng này không còn đơn thuần xuất phát từ mưa tại chỗ bởi mưa đã kết thúc trước đó. Theo báo cáo của các đơn vị, lượng nước lớn từ thượng nguồn sông Tích, sông Bùi, trong đó có khu vực thuộc Hòa Bình cũ, nay thuộc Phú Thọ, tiếp tục dồn về, làm mực nước sông duy trì ở mức cao và gây tràn tại một số vị trí.
Phía sau diễn biến ấy là đặc điểm địa hình của cả một lưu vực.

Phía Tây Hà Nội có những khu vực cao ở vùng núi nhưng thấp dần về phía Chương Mỹ, Mỹ Đức cũ. Nước từ vùng cao tập trung xuống những vùng trũng phía dưới, trong khi sông Tích và sông Bùi có nhiều đoạn hẹp, nông, quanh co. Những vùng trũng hai bên sông có khả năng giữ một lượng nước đáng kể, giúp làm giảm đỉnh lũ nhưng đồng thời khiến thời gian tiêu thoát kéo dài.
Bởi vậy, một trận lũ tại đây không kết thúc cùng lúc với một trận mưa. Nước cần thời gian để đi từ thượng nguồn xuống hạ lưu, tràn vào các vùng chứa tự nhiên rồi tiếp tục tìm đường qua sông Bùi, sông Tích để về hệ thống sông Đáy.
Ở cuối hành trình ấy lại xuất hiện một điểm nghẽn khác. Khi sông Tích và sông Đáy cùng duy trì mực nước cao, khả năng tiêu tự chảy giảm, hoạt động của các trạm bơm cũng bị hạn chế. Nút Ba Thá, nơi nước từ hệ thống Tích - Bùi dồn về sông Đáy, vì vậy trở thành mắt xích quan trọng. Nếu khả năng tải nước của sông Đáy không được cải thiện, việc chỉ tăng khả năng tiêu của sông Tích hoặc sông Bùi khó tạo ra thay đổi căn bản.
Hệ thống đê hiện hữu cũng bộc lộ những giới hạn. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, một số tuyến đê bao hữu Tích có cao trình khoảng 8 m; khi mực nước tại cống Vĩnh Phúc vượt ngưỡng này, tương ứng báo động III, nguy cơ tràn đê xuất hiện. Đối với sông Bùi, một số tuyến đê bao có cao trình khoảng 7 m và cũng có thể bị tràn khi nước tại Yên Duyệt đạt mức tương ứng.
Nhìn tổng thể, phía Tây Hà Nội đang phải tiếp nhận lượng nước lớn từ thượng nguồn vào một vùng địa hình thấp, trong khi khả năng trữ nước của hồ, khả năng dẫn của sông, cao trình đê và năng lực tiêu nước ở hạ lưu đều có những giới hạn nhất định. Khi nhiều yếu tố bất lợi xuất hiện cùng lúc, ngập không chỉ sâu hơn mà còn kéo dài hơn.

Tính đến 5h30 ngày 23/9, theo tổng hợp được công bố tại cuộc họp, đợt ngập đã ảnh hưởng hơn 8.500 hộ với gần 33.000 người. Trong số này, 2.465 hộ với hơn 8.600 người phải sơ tán; hơn 2.600 ngôi nhà bị ngập. Các khu vực chịu ảnh hưởng đáng kể gồm Xuân Mai, Quảng Bị, Trần Phú, Hòa Phú, Phúc Sơn và Hạ Bằng. Đây là số liệu tổng hợp hậu quả của cả đợt mưa lũ tính đến thời điểm báo cáo, không phải số hộ bị ảnh hưởng mới phát sinh trong sáng 23/9.
Tại Quảng Bị, nước sông Bùi khiến khoảng 1,5 km đê Tả Bùi và 2,6 km đê Hữu Bùi bị tràn. Theo báo cáo của địa phương, 897 hộ với 3.535 nhân khẩu chịu ảnh hưởng và 119 hộ phải di chuyển từ khu vực thấp lên nơi cao hơn. Một số công trình thủy lợi, trong đó có trạm bơm Yên Duyệt 1, cùng các tuyến giao thông địa phương cũng bị ngập.

Xuân Mai nằm trong nhóm chịu tác động mạnh. Ngoài phạm vi khoảng 1.400 ha bị ảnh hưởng, địa phương còn chỉ ra những hạn chế tồn tại nhiều năm trong hệ thống tiêu thoát. Theo phản ánh của lãnh đạo xã tại cuộc họp, sông Bùi chưa được nạo vét đồng bộ trong thời gian dài, tình trạng bồi lắng tiếp diễn, trong khi một số hồ chứa như Văn Sơn, Miễu cũng bị bồi lắng, làm suy giảm dung tích chứa nước. Đây là những đánh giá của địa phương cần tiếp tục được khảo sát, đo đạc và lượng hóa khi xây dựng phương án kỹ thuật tổng thể.
Từ những diễn biến thực tế, một điều ngày càng rõ: đây không phải vấn đề của riêng Xuân Mai, Quảng Bị hay bất kỳ xã nào nằm ven một dòng sông.
Nước không dừng lại ở ranh giới hành chính.
Một lượng nước hình thành ở thượng nguồn có thể đi qua nhiều địa phương trước khi đến vùng thấp. Việc nâng một đoạn đê ở xã này có thể làm thay đổi dòng chảy ở khu vực khác. Tăng tốc đưa nước xuống sông Đáy nhưng không nâng khả năng tải của dòng sông này có thể đơn giản là chuyển điểm nghẽn từ thượng lưu xuống hạ lưu.
Đó cũng là lý do Chủ tịch UBND TP Hà Nội yêu cầu nghiên cứu toàn bộ lưu vực sông Bùi, sông Tích và sông Đáy trên cơ sở dữ liệu địa hình, thủy văn, lượng mưa, hướng dòng chảy và cao trình đê, thay vì tiếp tục xử lý riêng từng tuyến đê hoặc từng địa phương.

Cách tiếp cận này đánh dấu một thay đổi quan trọng. Thay vì hỏi một địa phương cần thêm bao nhiêu máy bơm hay một đoạn đê cần nâng thêm bao nhiêu mét, câu hỏi được mở rộng thành: toàn bộ lượng nước sinh ra trong lưu vực sẽ được giữ ở đâu, trữ ở đâu, dẫn theo đường nào và thoát ra bằng cách nào?
Chỉ khi trả lời đồng thời những câu hỏi đó mới có thể tránh tình trạng giải quyết được điểm ngập này nhưng lại tạo thêm áp lực cho một khu vực khác.

Một trong những vấn đề đáng chú ý nhất được đưa ra sau cuộc họp ngày 23/9 là ý tưởng tạo các không gian trữ lũ cho lưu vực sông Tích, sông Bùi.
Cách tiếp cận này xuất phát từ một thực tế khá đơn giản: trong một trận lũ lớn, không thể đưa toàn bộ lượng nước ra khỏi lưu vực cùng một lúc. Nếu khả năng tải của sông có giới hạn, một phần nước cần được giữ lại tạm thời tại những khu vực phù hợp, qua đó làm giảm đỉnh lũ và hạn chế lượng nước cùng lúc dồn về vùng dân cư.
Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Võ Nguyên Phong cho rằng quy hoạch tiêu úng sông Tích, sông Bùi phải được đặt trong toàn bộ hệ thống Tích - Bùi - Đáy. Cùng với cải tạo, mở rộng và khơi thông dòng sông, thành phố cần kết hợp điều tiết hệ thống hồ. Những hồ lớn như Suối Hai, Đồng Mô cần được nghiên cứu chế độ vận hành khác nhau giữa mùa kiệt và mùa lũ: mùa khô giữ nước phục vụ sản xuất, trong khi trước và trong mùa lũ phải có dung tích dự phòng để tham gia cắt lũ.
Quan điểm quan trọng ở đây là không phải nơi nào cũng có thể được bảo vệ bằng cách dựng đê cao hơn.
Cần xác định rõ khu vực nào phải bảo vệ tuyệt đối vì có dân cư và hạ tầng quan trọng, đồng thời xác định những vùng nào có thể đóng vai trò chứa nước có kiểm soát. Khi những không gian này được kết nối với hồ chứa, sông và hệ thống tiêu thoát, chúng có thể trở thành các “kho trữ lũ” phân tán trong toàn lưu vực.
Một số ý tưởng cụ thể cũng được đưa ra để tiếp tục nghiên cứu. Trong đó có phương án hình thành hệ thống thu nước dọc đường Hồ Chí Minh đưa về hồ Đồng Sương và Văn Sơn thuộc lưu vực tiêu hữu Đáy; cải tạo các hồ chứa để tăng dung tích; rà soát lại cao trình đê; đồng thời đẩy nhanh dự án cải tạo, nâng cấp sông Tích từ cống Lương Phú về hạ du. Đây mới là các đề xuất và hướng nghiên cứu, chưa phải những dự án đồng loạt được quyết định triển khai.
Tư duy “dành chỗ cho nước” cũng đặt ra yêu cầu phải xem xét lại cách sử dụng những vùng đất thấp.

Trong quá trình đô thị hóa, nếu vùng trũng tự nhiên liên tục được san nền và xây dựng, lượng nước từng được phân tán trên một không gian rộng sẽ tập trung nhanh hơn vào sông, kênh và hệ thống cống. Khi đó, để thay thế chức năng điều tiết tự nhiên đã mất, thành phố phải đầu tư những công trình ngày càng lớn và tốn kém.
Ngược lại, một vùng trũng được quy hoạch phù hợp có thể cùng lúc thực hiện nhiều chức năng. Bình thường, nơi đó có thể phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh thái, cảnh quan hoặc một số hoạt động kinh tế phù hợp; khi xuất hiện lũ lớn, nó trở thành không gian tạm chứa nước để bảo vệ các khu dân cư xung quanh.
Tuy nhiên, đây cũng là bài toán liên quan trực tiếp tới con người. Nhiều vùng thấp hiện không còn là khoảng đất trống mà đã có cộng đồng dân cư sinh sống ổn định trong thời gian dài.
Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Bùi Duy Cường vì thế đặt vấn đề nghiên cứu những khu tái định cư lớn nhằm ổn định đời sống người dân tại các khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ. Sau khi bố trí lại dân cư, những vùng phù hợp có thể được nghiên cứu phát triển theo hướng du lịch, sinh thái hoặc nông nghiệp thích ứng với đặc điểm thấp trũng.
Như vậy, “kho trữ lũ” nếu được lựa chọn sẽ không đơn thuần là một công trình thủy lợi. Nó liên quan đến quy hoạch đất đai, tổ chức dân cư, sinh kế và cách Hà Nội lựa chọn phát triển toàn bộ không gian phía Tây trong nhiều thập niên tới.

Những ngày cuối tháng 9/2026 rồi sẽ qua, nước trên sông Tích và sông Bùi sẽ tiếp tục xuống, người dân trở về nhà và những tuyến đường ngập nước sẽ dần hoạt động trở lại. Nhưng nếu mọi việc chỉ dừng ở khắc phục hậu quả, một trận lũ khác vẫn có thể đưa những vùng thấp phía Tây trở lại vòng lặp quen thuộc.
Cuộc họp ngày 23/9 vì vậy đặt ra yêu cầu xây dựng một giải pháp có quy mô lớn hơn.
Trước mắt, thành phố yêu cầu phối hợp vận hành hồ chứa, trạm bơm, chủ động tiêu nước khi có dự báo mưa lớn và đẩy nhanh nạo vét các dòng sông để nâng khả năng tiêu thoát. Các địa phương vẫn phải bám sát những khu vực còn ngập và sẵn sàng ứng phó với diễn biến mới trong mùa mưa.

Nhưng giải pháp lâu dài phải bắt đầu bằng việc nhìn toàn bộ phía Tây như một hệ thống thủy văn thống nhất.
Trên hệ thống ấy, lớp đầu tiên là khả năng giữ nước ở thượng nguồn. Dung tích thực tế của các hồ cần được rà soát, những hồ bị bồi lắng phải được đánh giá khả năng phục hồi và quy trình vận hành cần dành đủ dung tích cho nhiệm vụ cắt lũ khi xuất hiện dự báo bất lợi.
Lớp tiếp theo là trữ nước trong lưu vực. Các vùng thấp có khả năng chứa nước cần được xác định trên bản đồ quy hoạch, tránh để quá trình phát triển đô thị làm mất dần những không gian điều tiết tự nhiên. Hồ điều hòa, hồ thủy lợi và vùng trữ lũ có kiểm soát có thể kết hợp thành một mạng lưới thay vì tồn tại như những công trình rời rạc.
Sau khả năng giữ và trữ là khả năng dẫn nước. Sông Tích, sông Bùi cần được đánh giá tổng thể về bồi lắng, mặt cắt, những điểm thắt và hành lang dòng chảy. Việc nâng cấp đê cũng phải dựa trên mô hình thủy lực chung, bởi nâng một đoạn đê mà không tính đến tác động toàn hệ thống có thể khiến áp lực lũ chuyển sang khu vực khác.
Cuối cùng là khả năng thoát nước ở hạ lưu. Ba Thá và sông Đáy là mắt xích không thể bỏ qua. Nếu cửa thoát cuối cùng không đủ năng lực, việc tăng tốc đưa nước từ sông Tích và sông Bùi xuống chỉ khiến lượng nước tập trung nhanh hơn tại điểm nghẽn. Chính vì vậy, lãnh đạo các sở, ngành đều đặt việc xử lý Tích - Bùi trong mối quan hệ với sông Đáy, thay vì xem đây là ba bài toán độc lập.
Ở tầng cao hơn tất cả những giải pháp thủy lợi là quy hoạch phát triển đô thị.
Phía Tây đang được Hà Nội định hướng trở thành một động lực phát triển mới. Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng cho rằng nếu không giải quyết được tình trạng lũ và ngập úng thì sẽ rất khó triển khai các công trình ngầm, đường sắt đô thị và những hạ tầng lớn tại khu vực này.
Điều đó đồng nghĩa bản đồ phát triển đô thị trong tương lai phải đồng thời là một bản đồ dòng chảy.

Một tuyến đường mới cần được đánh giá liệu có vô tình trở thành vật cản nước. Một khu đô thị san nền phải xác định lượng nước từng được chứa tại khu đất đó sẽ chuyển về đâu. Một công trình ngầm phải tính tới cao trình của những kịch bản lũ cực đoan. Những vùng trũng có chức năng điều tiết cần được nhận diện trước khi quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng.
Đây có lẽ cũng là thông điệp quan trọng nhất rút ra từ đợt lũ tháng 9.
Phía Tây Hà Nội không thiếu nước để tiêu, mà đang thiếu một hệ thống đủ hoàn chỉnh để quyết định nước nào cần giữ lại, giữ ở đâu, nước nào phải dẫn đi và cửa thoát nào phải được mở rộng.
Bởi vậy, lời giải có thể không nằm trong một “siêu dự án” duy nhất. Nó phải là sự kết hợp giữa hồ chứa, vùng trữ lũ, sông Tích, sông Bùi, sông Đáy, hệ thống đê, trạm bơm, quy hoạch cao độ và tổ chức dân cư.
Khi những mắt xích này được đặt trong cùng một mô hình thủy văn và cùng một quy hoạch phát triển, Hà Nội mới có thể chuyển từ cách ứng phó theo từng trận lũ sang quản trị rủi ro cho cả lưu vực.
Và mục tiêu cuối cùng cũng không phải biến một vùng thấp tự nhiên thành nơi không bao giờ xuất hiện nước lũ. Điều quan trọng hơn là xác định nơi nào nước có thể được giữ lại an toàn, nơi nào bắt buộc phải được bảo vệ và làm thế nào để mỗi trận lũ lớn không còn đồng nghĩa với hàng nghìn gia đình phải sống nhiều ngày giữa biển nước.
Chống ngập phía Tây, vì thế, trước hết là câu chuyện tổ chức lại không gian cho nước: giữ được ở thượng nguồn, trữ được trong lưu vực, dẫn được qua những dòng sông và thoát được ở hạ lưu. Khi dòng nước có một hành trình rõ ràng, những vùng dân cư thấp trũng mới có cơ hội thoát khỏi vòng lặp ngập lụt kéo dài đã tồn tại nhiều năm.

Hoàng Việt