
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bản Bướt nay là Tổ Bướt, xã Hợp Thành, tỉnh Sơn La, có 163 hộ với 618 nhân khẩu. Người Thái chiếm khoảng 40%, cùng cộng đồng người Dao, Mường và Kinh. Nông nghiệp và rừng là hai nguồn sinh kế chính của người dân.
Hiện toàn khu vực bản Hợp Thành còn khoảng 28% hộ nghèo, trong khi Bản Bướt chỉ còn 4 hộ nghèo. Kết quả này gắn với quá trình đa dạng hóa sinh kế, trong đó sản xuất nông nghiệp sinh thái - hữu cơ và du lịch cộng đồng đang từng bước tạo thêm giá trị tại chỗ.
Trước đây, sản xuất nông nghiệp tại Bản Bướt vẫn phụ thuộc vào phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Việc sử dụng các loại vật tư đầu vào này kéo dài khiến nguồn thủy sinh trong ruộng và suối suy giảm, nhiều dấu hiệu của hệ sinh thái tự nhiên dần biến mất.
Từ năm 2019, với sự đồng hành của Doanh nghiệp xã hội Agritage Việt Nam và Trung tâm Hợp tác phát triển Tây Bắc (TABA) thông qua chương trình GREAT, Bản Bướt được lựa chọn phát triển mô hình “Làng nông nghiệp di sản”. Mô hình được triển khai theo hướng kết hợp sản xuất nông nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học, gìn giữ văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng.
Bà Đinh Thị Huyền, Giám đốc Trung tâm Hợp tác phát triển Tây Bắc (TABA), cho biết cách tiếp cận của mô hình là tạo giá trị ngay tại vùng sản xuất, thay vì chỉ đưa nông sản ra khỏi địa phương tiêu thụ.

Quá trình chuyển đổi sản xuất ban đầu không dễ dàng. Ông Hà Văn Nguy, Giám đốc Hợp tác xã Đồng Rừng, cho biết khi ngừng sử dụng phân hóa học, người dân phải học cách tận dụng rơm rạ, phân chuồng để làm phân bón. Những vụ đầu, sâu bệnh gia tăng trong khi năng suất giảm.
“Khi ngừng sử dụng phân hóa học, bà con phải tự học ủ phân từ rơm rạ, phân chuồng; thời gian đầu sâu bệnh phát triển mạnh vì đất và cây chưa kịp ‘khỏe’ trở lại”, ông Nguy nói.

Có thửa ruộng trước đây đạt 6-7 tạ/300m², sau khi chuyển sang canh tác hữu cơ chỉ còn 3-4 tạ. Một số hộ từng cân nhắc việc dừng mô hình. Tuy nhiên, thay vì quay lại phương thức canh tác cũ, người dân tiếp tục thử nghiệm các giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương. Phân chuồng, rơm rạ được ủ làm phân; riềng, tỏi, ớt được sử dụng để tạo chế phẩm phòng trừ sâu bệnh.
Chị Hà Thị Hiếm, người dân tộc Thái tại Bản Bướt, cho biết: “Giờ dân bản Bướt đã quen dùng nước tỏi ớt ngâm rượu để phun diệt trừ sâu bệnh, dùng phân xanh ủ với phân chuồng bón cây, bón lúa vẫn cho năng suất cao mà không mất tiền mua phân hóa học như trước đây”.

Sau khoảng hai năm, những thay đổi bắt đầu rõ hơn. Châu chấu, chuồn chuồn, nhện cùng tôm, cá xuất hiện trở lại ở đồng ruộng và dòng suối. Cùng với chuyển đổi phương thức sản xuất, Bản Bướt khôi phục các giống lúa bản địa như Tẻ râu và Nếp tím. Đây là những giống có năng suất không cao nhưng có giá trị về đặc trưng địa phương và đang được thị trường quan tâm. Theo chị Hiếm, gạoTẻ râu hữu cơ được tiêu thụ thuận lợi, có thời điểm “làm ra không đủ để bán”.

Từ quá trình này, Hợp tác xã Đồng Rừng được thành lập, thương hiệu Nông sản Đồng Rừng được xây dựng với các sản phẩm như gạo tẻ râu và hạt bản địa. Vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn PGS (hệ thống chứng nhận đảm bảo có sự tham gia) cũng từng bước được hình thành.
Tuy nhiên, mô hình vẫn đối mặt một số khó khăn như diện tích bảo tồn giống tẻ râu còn hạn chế, nguồn phân hữu cơ tại chỗ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu và sức ép từ các hoạt động đầu tư bất động sản tại khu vực lân cận.

Theo cách tiếp cận của Agritage Việt Nam, một “làng nông nghiệp di sản - Agritage Village” được hình thành trên 5 yếu tố gồm: sinh kế bền vững và an ninh lương thực; đa dạng sinh học trong nông nghiệp; tri thức bản địa; hệ thống giá trị văn hóa và tổ chức cộng đồng; cảnh quan đặc trưng.
Tại Bản Bướt, quá trình xây dựng mô hình không dừng ở chuyển đổi ruộng lúa mà mở rộng sang phục hồi cảnh quan và quản lý tài nguyên chung. Với nguồn đầu tư ban đầu khoảng 500 triệu đồng, hai năm đầu tập trung vào khôi phục giống lúa bản địa và tổ chức các lớp tập huấn về nông nghiệp hữu cơ tại bản.

Một quả đồi từng trồng trà nhưng sau đó bỏ hoang, đất bạc màu đến mức “khó tìm được một con giun”, cũng được đưa vào phục hồi. Từ năm 2020, khu vực này được cải tạo thành không gian nhà sàn phục vụ du lịch cộng đồng trên đất của 11 hộ gia đình. Hơn 1.000 cây thuộc nhiều tầng tán được trồng bổ sung. Sau quá trình cải tạo, đất dần tơi xốp và giun đất xuất hiện trở lại. Đây cũng trở thành một trong những khu vực phục vụ hoạt động trải nghiệm của du khách.
Cùng với đất, nguồn nước được xác định là một tài nguyên cần được cộng đồng bảo vệ. Dòng suối dài khoảng 3km từng chịu tác động bởi đánh bắt tận diệt bằng chài lưới, kích điện và rác thải từ hoạt động sản xuất. Người dân Bản Bướt sau đó thống nhất đưa quy định không đánh bắt tận diệt vào hương ước. Từ đó, cá được bảo vệ ở đầu nguồn, dân bản có thể khai thác cá ở cuối nguồn suối.

Việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản được thực hiện thông qua các quy định chung của cộng đồng. Cá suối dần xuất hiện trở lại, góp phần tạo thêm giá trị cảnh quan và trải nghiệm cho hoạt động du lịch.
Trên địa bàn, Bản Bướt hiện quản lý khoảng 162ha rừng nguyên sinh và rừng phòng hộ. Nguồn kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng năm nay khoảng 240,6 triệu đồng được giữ làm quỹ chung, phục vụ đầu tư các công trình phúc lợi như đường giao thông, cầu qua suối và sửa chữa nhà văn hóa.
Các quy định về bảo vệ rừng đầu nguồn được đưa vào hương ước, kết hợp hoạt động tuần tra của dân quân bản và các nhóm liên gia tự quản. Theo đó, sản xuất nông nghiệp, bảo vệ rừng và nguồn nước được đặt trong cùng một cơ chế quản lý cộng đồng. Đây là nền tảng để Bản Bướt mở rộng mô hình từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển làng nông nghiệp di sản. Cùng với sản xuất, du lịch cộng đồng đang trở thành một kênh để gia tăng giá trị cho các tài nguyên bản địa.
Du khách đến Bản Bướt có thể tham quan đồng ruộng, tìm hiểu phương thức canh tác, trải nghiệm sản xuất hoặc khám phá rừng. Các hộ dân có thêm thu nhập từ lưu trú, ăn uống, cung cấp thực phẩm và phục vụ khách. Phụ nữ địa phương cũng tham gia ngày càng nhiều vào các dịch vụ homestay, chế biến thực phẩm và tổ chức hoạt động trải nghiệm.

Bà Đinh Thị Huyền cho rằng giá trị của mô hình nằm ở việc kết nối nhiều sản phẩm và dịch vụ trên cùng một không gian. “Bán giá trị” ở đây là bán cả hệ sinh thái đứng sau hạt gạo: cánh đồng được canh tác thuận tự nhiên, giống lúa bản địa được gìn giữ, dòng suối được bảo vệ, khu rừng được cộng đồng quản lý và những tri thức sản xuất truyền thống được tiếp nối”, bà Huyền cho biết.

Vì vậy, Bản Bướt không hướng tới du lịch đại trà mà tập trung vào các trải nghiệm gắn với sản xuất, cảnh quan và văn hóa địa phương. Từ cánh đồng tẻ râu, du khách có thể tiếp tục khám phá dòng suối, chèo kayak, tắm thác Bằng Đông, thưởng trà, ngâm chân trong dòng nước nóng từ mạch ngầm hoặc tham quan hệ thống hang động.

Buổi tối, các hoạt động văn hóa như múa xòe, nhảy sạp được tổ chức trong không gian cộng đồng. Những ngôi nhà sàn vừa là nơi lưu trú, vừa tạo điều kiện để du khách tiếp cận đời sống của người dân địa phương.
Cuối mỗi năm, kết quả kinh doanh của Hợp tác xã Đồng Rừng được công khai. Trong đó, 15% lợi nhuận được trích vào quỹ tái đầu tư cho bản; phần còn lại được chia cho thành viên góp cổ phần và các hộ liên kết sản xuất, cung ứng dịch vụ du lịch.
Bản Bướt cũng đang thử nghiệm thêm các sinh kế như nuôi lợn bản địa, vịt cổ xanh cho hộ nghèo, nuôi hươu liên kết doanh nghiệp và trồng nấm. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2030 không còn hộ nghèo.

Thách thức phía trước vẫn còn, nhất là việc mở rộng diện tích giống bản địa, chủ động nguồn phân hữu cơ, duy trì tiêu chuẩn sản xuất và bảo đảm sinh kế ổn định cho người dân.
Tuy nhiên, quá trình nỗ lực tại Bản Bướt cho thấy chuyển đổi nông nghiệp không nhất thiết chỉ được đo bằng năng suất. Với mô hình làng nông nghiệp di sản, hiệu quả còn được nhìn từ khả năng giữ lại nguồn tài nguyên, tri thức và giá trị kinh tế trong cộng đồng./.