Sáng 4/9, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành và lãnh đạo Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình về kế hoạch phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại ba hệ thống sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy, Ngũ Huyện Khê. Đằng sau kế hoạch này là một yêu cầu lớn hơn: đưa những dòng sông vượt ngưỡng chịu tải trở lại vai trò của một hạ tầng thiết yếu, đồng thời mở ra không gian phát triển mới cho toàn vùng.

Trong cấu trúc phát triển của đồng bằng sông Hồng, các hệ thống sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê giữ vai trò quan trọng đối với nguồn nước, sản xuất, tiêu thoát nước và môi trường. Đây không phải những dòng chảy tồn tại tách biệt, mà là các hệ thống có liên hệ với hạ tầng thủy lợi, khu dân cư, đô thị, khu công nghiệp và hoạt động kinh tế của nhiều địa phương.
Khi một hệ thống sông suy thoái, tác động không chỉ nằm ở chất lượng nước. Nguồn nước suy giảm có thể ảnh hưởng đến khả năng phục vụ sản xuất, sinh hoạt, tiêu úng và giảm ngập. Ngược lại, khi ô nhiễm gia tăng, áp lực lên môi trường sống, hệ sinh thái và chi phí xử lý nước cũng tăng theo. Bởi vậy, phục hồi sông không thể chỉ là một dự án nạo vét, bổ sung nước hoặc xử lý một vài điểm ô nhiễm, mà phải là quá trình khôi phục khả năng vận hành của cả hệ thống.
Tại cuộc họp sáng 4/9, Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo về dự thảo Hồ sơ Đề án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại ba hệ thống sông. Dự thảo xác định ba mục tiêu lớn: điều hòa, phân phối và phát triển nguồn nước mặt; kiểm soát nguồn gây ô nhiễm, thu gom và xử lý nước thải; đồng thời phục hồi hệ sinh thái, cảnh quan và không gian phát triển ven sông.

Điều này cho thấy vị trí của ba hệ thống sông trong chiến lược phát triển không chỉ được nhìn từ góc độ môi trường. Nguồn nước là nền tảng của sản xuất và đời sống; chất lượng nước quyết định sức tải môi trường; còn khả năng phục hồi của dòng sông có liên quan trực tiếp đến cách tổ chức không gian đô thị, nông thôn và kinh tế của cả vùng.
Theo thông tin được công bố, các hệ thống sông đang chịu tác động của biến đổi khí hậu, áp lực phát triển kinh tế và công tác quản lý, dẫn đến tình trạng vượt ngưỡng chịu tải, đứng trước nguy cơ lớn về môi trường và không còn khả năng tự làm sạch. Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải chuyển từ những giải pháp riêng lẻ sang một kế hoạch có tính tổng thể.
Điểm đáng chú ý là kế hoạch phục hồi được đặt trong phạm vi liên quan đến năm tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên và Ninh Bình. Điều này đồng nghĩa với việc hiệu quả của một công trình hay một giải pháp tại một địa phương có thể phụ thuộc vào cách các địa phương khác vận hành nguồn nước, xử lý nước thải và quản lý không gian ven sông.
Vì thế, câu chuyện phục hồi ba hệ thống sông cũng là câu chuyện về sự liên kết vùng. Một dòng sông không có ranh giới hành chính cố định theo cách một dự án đường bộ hay một khu đô thị có thể có. Nước chảy qua nhiều địa bàn, mang theo cả nguồn lợi và áp lực môi trường. Muốn phục hồi bền vững, các địa phương cần cùng nhìn về một hệ thống, cùng chia sẻ dữ liệu và cùng chịu trách nhiệm với kết quả cuối cùng.

Nếu coi ba hệ thống sông là một cơ thể sống, thì dòng chảy là mạch vận hành, còn kiểm soát nguồn thải là điều kiện để cơ thể ấy có thể phục hồi. Một dòng sông không thể khỏe lại chỉ bằng cách đưa thêm nước vào, nếu lượng ô nhiễm tiếp tục vượt quá khả năng tiếp nhận. Ngược lại, xử lý nước thải mà không bảo đảm dòng chảy cũng khó tạo ra một hệ thống vận hành ổn định.
Đó là lý do dự thảo Đề án đặt mục tiêu phục hồi nguồn nước bằng các giải pháp ưu tiên tự chảy, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm. Theo báo cáo tại cuộc họp, đến năm 2035, Đề án phấn đấu điều hòa, phân phối và phát triển nguồn nước mặt với lưu lượng đến 120 m³/s từ sông Hồng vào Bắc Hưng Hải, đến 28 m³/s từ sông Đuống vào Ngũ Huyện Khê và đến 200 m³/s từ sông Đà vào Nhuệ - Đáy. Đây là các mục tiêu của dự thảo, không phải lưu lượng đã được thực hiện.
Dòng chảy tự nhiên là nền tảng của phục hồi
Giải pháp tự chảy được ưu tiên nhằm duy trì dòng chảy thường xuyên, liên tục cho các sông; nâng cao năng lực lấy nước, tiêu úng, giảm thiểu ngập lụt; đồng thời tiết kiệm tối đa năng lượng và chi phí vận hành. Về bản chất, đây là cách tiếp cận hướng tới một hệ thống nguồn nước có khả năng vận hành ổn định hơn, thay vì chỉ xử lý những thời điểm thiếu nước hoặc ô nhiễm nghiêm trọng.
Đối với Bắc Hưng Hải, việc bổ sung nước từ sông Hồng được đặt trong mục tiêu phục hồi nguồn nước mặt và duy trì dòng chảy. Với Ngũ Huyện Khê, nguồn bổ sung từ sông Đuống được xác định trong dự thảo. Còn đối với Nhuệ - Đáy, mục tiêu bổ sung nước từ sông Đà gắn với yêu cầu cải thiện khả năng điều hòa và phân phối nguồn nước. Những con số này cho thấy phục hồi được tính toán theo quy mô hệ thống, không chỉ theo từng đoạn sông. Tuy nhiên, dòng chảy chỉ là một nửa của bài toán. Nửa còn lại là chất lượng nước.
Kiểm soát nguồn thải phải đi trước một bước
Dự thảo Đề án xác định mục tiêu quản lý, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm nước mặt trên ba hệ thống sông; triển khai đồng bộ các giải pháp thu gom, xử lý nước thải theo quy định trước khi xả thải vào nguồn nước. Đến năm 2035, dự thảo phấn đấu 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp có hạ tầng thu gom và xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; 70% nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý; trên 45% nước thải sinh hoạt nông thôn được xử lý bằng các biện pháp tập trung hoặc phân tán phù hợp.
Những mục tiêu này cho thấy phục hồi sông không thể tách khỏi việc tổ chức lại hệ thống thu gom và xử lý nước thải. Nước thải sinh hoạt, sản xuất và các nguồn thải khác cần được kiểm soát ngay từ nơi phát sinh. Khi nguồn thải được thu gom, xử lý và giám sát đúng quy định, áp lực lên dòng sông mới có thể giảm dần.
Đây cũng là điểm đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương. Một hệ thống sông có thể tiếp nhận nước từ nhiều nguồn, đi qua nhiều địa bàn và chịu tác động của nhiều hoạt động kinh tế. Nếu chỉ xử lý một đoạn sông mà không kiểm soát các nguồn thải liên quan, hiệu quả phục hồi sẽ khó duy trì lâu dài.

Đây là yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với một kế hoạch phục hồi có phạm vi liên tỉnh, thành phố. Khi nhiệm vụ được phân công rõ ràng, mỗi địa phương có thể xác định phần việc của mình trong tổng thể chung: từ công trình lấy nước, điều tiết dòng chảy, xử lý nước thải đến quan trắc, bảo vệ hành lang sông và tổ chức không gian ven sông.
Một cơ chế điều phối hiệu quả cũng cần bảo đảm rằng các công trình được đầu tư không hoạt động rời rạc. Công trình bổ sung nước phải gắn với khả năng tiếp nhận và vận hành của hệ thống. Công trình xử lý nước thải phải gắn với mạng lưới thu gom. Công trình cảnh quan phải gắn với hành lang bảo vệ nguồn nước và khả năng tiêu thoát nước. Khi các mắt xích được kết nối, đầu tư mới có thể tạo ra hiệu quả thực chất.
Các địa phương sẵn sàng nguồn lực, đẩy nhanh phục hồi các dòng sông
Tại cuộc họp, đại diện các Bộ, ngành, địa phương cơ bản thống nhất với sự cần thiết, mục tiêu, quan điểm và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp của dự thảo Đề án Kế hoạch phục hồi nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm trên các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê; đồng thời cho biết đã và đang chủ động triển khai nhiều nhiệm vụ, bố trí nguồn lực để xử lý ô nhiễm, cải thiện nguồn nước.
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn cho biết: "Chúng ta phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống thu gom nước, kể cả đô thị, nông thôn. Xử lý nước thải đô thị cả nước mới được khoảng 17%. Riêng đầu tư hệ thống thu gom để xử lý nước thải này đã cực kỳ tốn kém. Trong phương án ở đây cách rõ nhất là bổ cập nguồn nước. Nhưng lâu dài, vẫn phải đầu tư được hệ thống thu gom xử lý nước thải, và quan trọng hơn là nó vận hành như thế nào. Với cơ chế như hiện nay, thu phí nước thải thấp nên rất khó để các công trình nước thải này sau khi được đầu tư thu gom có thể tồn tại bền vững được".
Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Bùi Duy Cường cho biết, hệ thống Bắc Hưng Hải, sông Nhuệ và sông Đáy đang bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm, ảnh hưởng đến Hà Nội cũng như các địa phương liên quan. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu nguồn nước bổ cập, trong khi nước thải chưa qua xử lý vẫn đổ vào các hệ thống sông, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng.
Hà Nội đang triển khai chủ trương đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường sông Cầu Bây, một phần của hệ thống Bắc Hưng Hải. HĐND Thành phố đã thống nhất chủ trương đầu tư với tổng mức đầu tư 11.000 tỷ đồng theo hình thức PPP, loại hợp đồng BT. Hà Nội phấn đấu khởi công dự án trong tháng 9/2026.
Đối với sông Nhuệ, HĐND TP. Hà Nội cũng đã phê duyệt chủ trương đầu tư cải tạo, xử lý ô nhiễm môi trường và chỉnh trang cảnh quan. Dự án có tổng mức đầu tư dự kiến 75.000 tỷ đồng. Thành phố đang lập dự án đầu tư và quyết tâm khởi công vào khoảng tháng 11/2026.
Là địa phương chịu tác động lớn từ hệ thống Bắc Hưng Hải, nhất là khu vực cuối nguồn, Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng Trần Văn Quân cho biết, thời gian qua, Hải Phòng đã triển khai dự án ODA thu gom, xử lý nước thải trên địa bàn thành phố cũ với kinh phí khoảng 1.600 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Hải Phòng đang triển khai các dự án xử lý nước thải tại Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, khu vực bệnh viện và các khu vực khác. Thành phố cũng đang hoàn thiện thủ tục đầu tư hệ thống kè sông Sắt. Tổng cộng có 25 danh mục dự án thực hiện trên hệ thống Bắc Hưng Hải, cùng nhiều nhà máy xử lý nước thải tại các huyện, khu dân cư tập trung.

Phục hồi nguồn nước không chỉ nhằm đưa chất lượng nước trở lại trạng thái tốt hơn. Một mục tiêu quan trọng khác được đặt ra tại cuộc họp là tạo lập không gian phát triển mới. Đây là cách nhìn mở rộng vai trò của dòng sông: từ một nguồn nước cần bảo vệ trở thành một trục sinh thái, hạ tầng và cảnh quan có thể hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội.
Theo thông tin công bố, kế hoạch phục hồi hướng tới kết hợp tiêu thoát nước, giảm ngập úng, tạo trục cảnh quan đô thị, không gian công cộng, phát triển kinh tế ven sông và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Những mục tiêu này cho thấy phục hồi sông không chỉ là một chương trình môi trường, mà còn là một chương trình tái cấu trúc không gian phát triển.
Một nội dung được Phó Thủ tướng lưu ý là quản lý, quy hoạch và khai thác hiệu quả quỹ đất hình thành sau quá trình phục hồi các dòng sông. Theo báo cáo tại cuộc họp, khu vực này có khoảng 2.100 ha đất. Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương quản lý chặt chẽ, tránh lấn chiếm hoặc sử dụng không hiệu quả, qua đó bổ sung nguồn lực cho quá trình phục hồi.
Con số khoảng 2.100 ha cho thấy phục hồi sông có thể tạo ra một không gian phát triển đáng kể nếu được quy hoạch đúng. Nhưng giá trị của quỹ đất ven sông không chỉ nằm ở khả năng xây dựng. Trước hết, đó là không gian cần được tổ chức để bảo vệ nguồn nước, duy trì hành lang xanh, hỗ trợ tiêu thoát nước và tạo ra những khu vực công cộng có chất lượng.
Trong đô thị, không gian ven sông có thể trở thành những tuyến đi bộ, công viên, khu sinh hoạt cộng đồng và các điểm kết nối đô thị. Ở khu vực nông thôn, không gian ven sông có thể gắn với sản xuất, thủy lợi, sinh thái và các hoạt động kinh tế phù hợp. Điều quan trọng là mọi hoạt động phát triển phải được đặt trong giới hạn bảo vệ nguồn nước, không làm gia tăng nguồn thải hoặc thu hẹp khả năng tiêu thoát nước.
Một dòng sông được phục hồi có thể tạo ra nhiều giá trị đồng thời. Về môi trường, đó là khả năng cải thiện chất lượng nước, phục hồi hệ sinh thái và cảnh quan. Về xã hội, đó là không gian sống tốt hơn, nơi người dân có thể tiếp cận với mặt nước, cây xanh và các khu vực công cộng. Về kinh tế, đó là cơ hội phát triển những hoạt động phù hợp với quy hoạch và sức tải môi trường.
Nhưng để những giá trị ấy xuất hiện, cần tránh một cách hiểu đơn giản rằng cứ có đất ven sông là có thể phát triển đô thị. Phục hồi nguồn nước phải là mục tiêu cốt lõi, còn phát triển không gian ven sông phải là kết quả được xây dựng trên nền tảng môi trường được phục hồi. Nếu phát triển làm gia tăng ô nhiễm hoặc thu hẹp hành lang bảo vệ sông, thì chính quá trình phát triển sẽ làm suy giảm giá trị của dòng sông.
Vì vậy, quy hoạch không gian ven sông cần được đặt trong cùng một tầm nhìn với quy hoạch nguồn nước. Những khu vực cần bảo vệ, khu vực có thể cải tạo cảnh quan, khu vực dành cho hạ tầng môi trường và khu vực có thể phát triển kinh tế cần được xác định rõ. Khi đó, quỹ đất không chỉ là nguồn lực tài chính, mà còn là công cụ hỗ trợ phục hồi và nâng cao chất lượng sống.

Điều này mở ra một góc nhìn đáng chú ý: Phục hồi sông không chỉ là sửa chữa một hệ thống đã xuống cấp, mà còn là cơ hội tổ chức lại không gian phát triển theo hướng bền vững hơn. Khi dòng sông được phục hồi, các địa phương có thể có thêm cơ sở để quy hoạch lại cảnh quan, không gian công cộng và các hoạt động kinh tế phù hợp.

Để biến mục tiêu phục hồi thành kết quả thực tế, điều quan trọng nhất là phải có một lộ trình rõ ràng và cơ chế vận hành phù hợp. Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp thu đầy đủ ý kiến của các bộ, ngành, địa phương để tiếp tục hoàn thiện dự án; đồng thời làm rõ phạm vi, tên gọi của văn bản là dự án hay kế hoạch.
Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh đây là dự án có phạm vi rất rộng, liên quan đến năm tỉnh, thành phố, cần có cơ chế điều phối, phối hợp đồng bộ, phân công nhiệm vụ rõ ràng, xác định cụ thể địa phương nào thực hiện nhiệm vụ nào. Dự án cần được hoàn thiện theo hướng tổng thể, đồng bộ, xác định công trình ưu tiên, nguồn lực và cơ chế vận hành, bảo đảm đầu tư đến đâu phát huy hiệu quả đến đó.
Một kế hoạch phục hồi hiệu quả cần trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: Công trình nào cần làm trước? Nguồn nước được điều hòa ra sao? Nguồn thải nào cần kiểm soát? Địa phương nào chịu trách nhiệm? Kinh phí được huy động từ đâu? Ai vận hành và duy trì công trình sau đầu tư? Chất lượng nước được đánh giá bằng hệ thống quan trắc nào?
Đây là những câu hỏi không chỉ thuộc về kỹ thuật, mà còn thuộc về quản trị. Một công trình có thể được xây dựng tốt nhưng nếu thiếu nguồn lực vận hành, thiếu phối hợp hoặc thiếu kiểm soát nguồn thải, hiệu quả phục hồi sẽ không bền vững. Ngược lại, khi các nhiệm vụ được tổ chức thành một chuỗi liên tục, việc đầu tư có thể tạo ra kết quả rõ ràng hơn.
Dự thảo Đề án cũng xác định mục tiêu thí điểm áp dụng các cơ chế, chính sách để huy động tối đa nguồn lực xã hội, đặc biệt là sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân trong triển khai các giải pháp cải tạo, phục hồi nguồn nước, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Điều này mở ra khả năng đa dạng hóa nguồn lực cho phục hồi. Tuy nhiên, việc huy động nguồn lực xã hội cần đi cùng với yêu cầu bảo đảm lợi ích công cộng, minh bạch trong đầu tư và trách nhiệm bảo vệ nguồn nước. Phục hồi sông là một nhiệm vụ có tính chất lâu dài, vì vậy hiệu quả không chỉ được đo bằng số lượng công trình hoàn thành, mà còn bằng khả năng duy trì chất lượng nước và phát huy giá trị của dòng sông sau đầu tư.
Một lộ trình có thể tạo ra thay đổi thực chất
Từ những mục tiêu đã được nêu, có thể hình dung một lộ trình phục hồi theo hướng:
-
Đánh giá và xác định ưu tiên: Rà soát hiện trạng nguồn nước, nguồn thải, công trình thủy lợi và quy hoạch liên quan để xác định những điểm cần xử lý trước.
-
Khôi phục dòng chảy: Ưu tiên các giải pháp điều hòa, phân phối nguồn nước, nâng cao khả năng tiêu thoát và giảm ngập.
-
Giảm tải lượng ô nhiễm: Tập trung thu gom, xử lý nước thải, kiểm soát các nguồn thải và tăng cường quan trắc.
-
Phục hồi cảnh quan và hệ sinh thái: Tổ chức hành lang xanh, không gian công cộng và các khu vực ven sông phù hợp với điều kiện môi trường.
-
Duy trì và đánh giá: Thiết lập cơ chế vận hành, giám sát và đánh giá định kỳ để bảo đảm kết quả phục hồi được duy trì lâu dài.
Ba hệ thống sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê đang đứng trước yêu cầu phục hồi mang tính tổng thể. Những định hướng được nêu tại cuộc họp sáng 4/9 cho thấy mục tiêu không chỉ là khôi phục dòng chảy hay xử lý ô nhiễm, mà còn là tái tổ chức không gian phát triển, quản lý hiệu quả quỹ đất ven sông và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Nếu được triển khai đồng bộ, với trách nhiệm rõ ràng giữa các địa phương, cơ chế điều phối thống nhất và nguồn lực phù hợp, phục hồi nguồn nước có thể trở thành một động lực mới cho vùng đồng bằng sông Hồng. Những dòng sông từng chịu áp lực môi trường có thể được nhìn nhận lại như những trục sinh thái, hạ tầng và phát triển quan trọng của tương lai.
Điều quan trọng nhất là giữ vững nguyên tắc: phục hồi nguồn nước phải là nền tảng, phát triển không gian ven sông phải đi cùng bảo vệ môi trường, và mọi công trình phải được vận hành để tạo ra hiệu quả lâu dài.
Khi dòng sông được hồi sinh, giá trị không chỉ nằm trong lòng sông. Nó còn nằm ở những cánh đồng có nước, những khu dân cư có môi trường sống tốt hơn, những không gian công cộng được mở ra và những cơ hội phát triển mới được hình thành. Đó chính là ý nghĩa lớn hơn của một kế hoạch phục hồi nguồn nước: không chỉ làm sạch dòng sông, mà còn mở ra một tương lai phát triển bền vững hơn cho cả vùng.