
Mỗi mùa thu hoạch đi qua, trên khắp các cánh đồng Việt Nam lại xuất hiện những cột khói trắng xóa từ việc đốt rơm rạ sau gặt. Hình ảnh quen thuộc ấy không chỉ phản ánh một thói quen canh tác kéo dài nhiều năm mà còn cho thấy sự lãng phí lớn đối với nguồn tài nguyên sinh học đang bị bỏ quên. Trong khi nhiều quốc gia xem phụ phẩm nông nghiệp là nguyên liệu quan trọng cho nền kinh tế tuần hoàn thì ở Việt Nam, khối lượng khổng lồ rơm rạ, bã mía, vỏ trấu hay chất thải chăn nuôi vẫn chủ yếu bị loại bỏ hoặc xử lý sơ sài.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi năm ngành nông nghiệp Việt Nam tạo ra hơn 156 triệu tấn phụ phẩm. Đây là nguồn sinh khối có giá trị lớn, hoàn toàn có thể chuyển hóa thành phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu sinh học hoặc nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, tỷ lệ tái sử dụng hiện nay còn rất hạn chế, phần lớn phụ phẩm vẫn bị đốt bỏ hoặc xả trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm không khí và làm gia tăng phát thải khí nhà kính.
Không ít chuyên gia cho rằng, nếu được khai thác hợp lý, những thứ từng bị xem là “rác nông nghiệp” có thể trở thành nguồn tài nguyên thứ cấp mang lại giá trị kinh tế đáng kể. Chủ tịch Hiệp hội Thương mại giống cây trồng Việt Nam Trần Mạnh Báo nhận định, hầu hết phụ phẩm nông nghiệp đều có khả năng tái sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Rơm rạ có thể dùng làm thức ăn gia súc, sản xuất phân hữu cơ hoặc chế biến thành viên nén sinh khối phục vụ năng lượng sạch. Trong khi đó, trấu có thể trở thành nguyên liệu sản xuất than hoạt tính, vật liệu cách nhiệt và nhiều sản phẩm công nghiệp khác. Ngay cả nước thải trong quá trình chế biến nông sản cũng có thể xử lý thành nguồn dinh dưỡng cho thủy sản hoặc phục vụ sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Dù tiềm năng lớn, thực tế cho thấy việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam vẫn diễn ra manh mún. Với riêng rơm rạ, gần một nửa sản lượng sau thu hoạch vẫn bị đốt trực tiếp ngoài đồng. Chỉ khoảng 29% được tận dụng làm thức ăn cho gia súc, còn lại là các mục đích như ủ phân, che phủ đất hay làm chất độn chuồng với tỷ lệ khá thấp. Việc đốt bỏ không chỉ làm thất thoát nguồn hữu cơ quý giá mà còn khiến đất suy giảm độ màu mỡ, đồng thời gây áp lực lớn lên môi trường sống tại khu vực nông thôn.
Câu chuyện tương tự cũng xảy ra ở ngành mía đường. Hàng năm, hàng triệu tấn bã mía, tro và mật rỉ phát sinh trong quá trình sản xuất nhưng tỷ lệ tái chế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Một lượng lớn sinh khối giàu năng lượng bị loại bỏ thay vì được chuyển hóa thành nhiên liệu, phân bón hay vật liệu sinh học có giá trị cao hơn. Theo các chuyên gia, nếu khai thác hiệu quả nguồn phụ phẩm từ lúa, ngô, mía và rau màu, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra hàng chục triệu tấn phân bón hữu cơ, góp phần giảm đáng kể sự phụ thuộc vào nguồn phân bón nhập khẩu.

Trong bối cảnh thế giới thúc đẩy mạnh mô hình nông nghiệp phát thải thấp, rơm rạ ngày càng được nhìn nhận như một nguồn nguyên liệu chiến lược. Nhiều quốc gia châu Á đã phát triển thành công các mô hình kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm nông nghiệp, đặc biệt là công nghệ trồng nấm sạch quy mô lớn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, dù sở hữu nguồn rơm rạ dồi dào, việc khai thác nguồn nguyên liệu này vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Theo thống kê quốc tế, mỗi năm thế giới phát sinh khoảng 500-600 triệu tấn rơm rạ, trong đó khu vực Tiểu vùng Mekong chiếm tỷ trọng đáng kể. Thế nhưng ở nhiều quốc gia trong khu vực, phần lớn lượng rơm sau thu hoạch vẫn bị đốt bỏ, kéo theo hàng loạt hệ lụy về môi trường và sức khỏe cộng đồng. Đây cũng là nguyên nhân khiến việc tái sử dụng rơm rạ trở thành nội dung quan trọng trong chiến lược nông nghiệp xanh của nhiều nước.
PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), cho biết các mô hình khai thác rơm rạ theo hướng kinh tế tuần hoàn đã chứng minh được hiệu quả rõ rệt sau nhiều năm triển khai. Không chỉ giúp nâng cao giá trị chuỗi sản xuất lúa gạo thêm hơn 20%, việc tận dụng rơm còn góp phần cắt giảm trên 30% lượng phát thải khí nhà kính so với phương thức canh tác truyền thống.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, một số hợp tác xã đã bắt đầu thay đổi tư duy sản xuất. Hợp tác xã nông nghiệp Tiến Thuận ở Cần Thơ là ví dụ điển hình khi kết hợp khai thác rơm rạ để trồng nấm và sản xuất phân hữu cơ. Mô hình này giúp người dân tăng thu nhập đáng kể, đồng thời giảm chi phí đầu vào và hạn chế ô nhiễm môi trường do không còn tình trạng đốt rơm sau thu hoạch.
Dẫu vậy, quy mô các mô hình hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ và thiếu tính lan tỏa. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở công nghệ chế biến và bảo quản. Trong khi Hàn Quốc đã làm chủ công nghệ sản xuất nhiều loại nấm giá trị cao từ phụ phẩm nông nghiệp thì Việt Nam mới chủ yếu dừng ở những mô hình thủ công, năng suất thấp và chưa hình thành chuỗi sản xuất đồng bộ.

Việt Nam đang đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tái chế và tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp lên 70% vào năm 2030. Đây được xem là bước đi cần thiết để chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp xanh và tuần hoàn. Tuy nhiên, mục tiêu này khó có thể đạt được nếu thiếu sự tham gia đồng bộ của doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý.
Khi rơm rạ, bã mía hay vỏ trấu không còn bị xem là phế thải mà trở thành nguồn nguyên liệu cho sản xuất xanh, nền nông nghiệp Việt Nam sẽ có thêm cơ hội nâng cao giá trị gia tăng, giảm ô nhiễm và tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bền vững. Quan trọng hơn, việc làm chủ công nghệ chế biến phụ phẩm sẽ quyết định liệu Việt Nam có thể biến “mỏ vàng sinh học” đang bị bỏ phí thành động lực tăng trưởng mới cho nông nghiệp hay không.
Trần Huyền