
Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp, quy mô vốn cùng những chuyển biến trong quản trị, công nghệ và mô hình kinh doanh đang cho thấy sức sống ngày càng rõ nét của khu vực tư nhân Việt Nam. Tuy nhiên, phía sau tốc độ tăng trưởng đó vẫn là hàng loạt trở ngại liên quan đến vốn, đất đai, thủ tục hành chính, chi phí đầu vào, thị trường và năng lực đổi mới sáng tạo.

Theo số liệu từ Bộ Tài chính, tính đến hết ngày 31/8/2026, cả nước có 1.071.731 doanh nghiệp đang hoạt động, với tổng quy mô vốn đăng ký trên 32,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, khu vực tư nhân chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp, tương đương 1.029.838 doanh nghiệp, với khoảng 24,5 triệu tỷ đồng vốn đăng ký, tương ứng 75,2% tổng nguồn vốn của toàn thị trường.
So với cuối năm 2020, khi cả nước có khoảng 811,5 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, quy mô khu vực doanh nghiệp đã có bước mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng về số lượng chưa đồng nghĩa với sự cải thiện tương ứng về sức chống chịu và năng lực cạnh tranh.

Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 - khu vực miền Bắc, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, Giám đốc Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, đánh giá sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, khu vực này đã có những chuyển biến tích cực.
Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng nhanh hơn so với những năm trước; quy mô vốn đầu tư từng bước được nâng lên. Một số doanh nghiệp tư nhân lớn đã chủ động triển khai các chương trình, dự án do doanh nghiệp thực hiện hoặc theo đặt hàng của Nhà nước. Cùng với đó, nhiều doanh nghiệp bắt đầu thay đổi mô hình kinh doanh, quản trị và chiến lược, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đối với hộ kinh doanh và hợp tác xã, các chính sách về thuế, phí và cải cách thủ tục hành chính cũng đang tạo thêm điều kiện để khu vực này hoạt động thuận lợi hơn và từng bước nâng cấp lên mô hình doanh nghiệp.

Dẫu vậy, những chuyển biến trên vẫn chưa đủ để xóa bỏ các rào cản đã tồn tại trong thời gian dài. Doanh nghiệp tư nhân hiện phải đồng thời đối mặt với những tác động từ môi trường kinh tế bên ngoài và những hạn chế trong chính môi trường kinh doanh trong nước.

Một trong những vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp phản ánh nhiều nhất là khả năng tiếp cận vốn. Theo Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025, tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn luôn duy trì trên 50%. Việc tín dụng vẫn phụ thuộc đáng kể vào tài sản thế chấp khiến các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp bất lợi trong quá trình vay vốn.
Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, bài toán vốn không chỉ nằm ở phía ngân hàng. Doanh nghiệp muốn tiếp cận tín dụng cần chứng minh được năng lực tài chính, dòng tiền và hiệu quả hoạt động. Vì vậy, việc minh bạch hóa tài chính, chuẩn hóa dòng tiền và nâng cao năng lực quản trị là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp cải thiện khả năng tiếp cận vốn.

Ở chiều ngược lại, hệ thống tài chính cũng cần có phương thức đánh giá tín dụng phù hợp hơn với đặc điểm của khu vực tư nhân. Đây cũng là hướng được ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký VCCI, đề xuất khi cho rằng cần đẩy nhanh quá trình chuyển từ mô hình cho vay phụ thuộc vào tài sản thế chấp sang đánh giá dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh và chuỗi giá trị.
Cùng với vốn, đất đai và mặt bằng sản xuất tiếp tục là một nguồn lực khó tiếp cận đối với doanh nghiệp tư nhân. Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, đây là một trong những điểm nghẽn cần được xử lý nếu muốn doanh nghiệp mở rộng quy mô, không chỉ đối với các doanh nghiệp lớn mà cả nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Một áp lực khác đang ngày càng rõ là chi phí đầu vào. Khi giá nguyên vật liệu, logistics và nhiều yếu tố sản xuất tăng, doanh nghiệp lại không phải lúc nào cũng có thể tăng giá bán tương ứng bởi sức mua và áp lực cạnh tranh. Khoảng cách giữa chi phí đầu vào và khả năng tăng giá khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp, đặc biệt đối với những doanh nghiệp có nền tảng tài chính chưa vững. Trong khi đó, môi trường chính sách cũng đặt ra yêu cầu thích ứng ngày càng lớn. Theo VCCI, mức độ khó khăn liên quan đến chính sách, pháp luật đã tăng từ 16,9% lên 24,3%. Chỉ khoảng 6-8% doanh nghiệp cho biết có thể dự đoán sự thay đổi chính sách ở mức “thường xuyên” hoặc “luôn luôn”.

Sự thay đổi nhanh của quy định, nếu thiếu tính đồng bộ và khoảng thời gian chuyển tiếp phù hợp, có thể khiến doanh nghiệp khó xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn. Không chỉ phải theo dõi chính sách, doanh nghiệp còn cần có khả năng điều chỉnh quy trình, tài chính và chiến lược kinh doanh để đáp ứng những yêu cầu mới.
“Trở ngại hiện nay không phải là thiếu khung pháp lý mà nằm ở chất lượng quy định, sự mâu thuẫn giữa các văn bản và đặc biệt là khâu thực thi. Các cơ quan soạn thảo cần tăng cường đánh giá tác động quy định (RIA) một cách thực chất và bảo đảm thời gian chuyển tiếp đủ dài để doanh nghiệp chuẩn bị”, ông Đậu Anh Tuấn kiến nghị.

Thủ tục gia nhập và vận hành thị trường cũng là một vấn đề cần tiếp tục cải thiện. Mặc dù thời gian đăng ký doanh nghiệp đã được rút ngắn, chất lượng hướng dẫn và thực thi chưa đồng đều. Chỉ 19,3% doanh nghiệp không phải sửa hồ sơ, trong khi gần 10% phải sửa từ 4 lần trở lên. Những lần bổ sung, điều chỉnh hồ sơ không chỉ kéo dài thời gian mà còn làm tăng chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp.

Bên cạnh các rào cản bên ngoài, khu vực tư nhân cũng phải giải quyết những điểm yếu ngay bên trong doanh nghiệp. Tiến sĩ Cấn Văn Lực cho biết năng lực đổi mới sáng tạo vẫn còn hạn chế, khi chỉ khoảng 5% doanh nghiệp thực sự đầu tư vào đổi mới, sản phẩm hoặc dịch vụ mới.
Điều này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp không thể chỉ chờ đợi chính sách hỗ trợ mà phải chủ động nâng cao năng lực quản trị, chuẩn hóa tài chính, đầu tư cho công nghệ và tìm kiếm mô hình kinh doanh mới. Nếu năng lực nội tại không được cải thiện, việc tiếp cận nguồn lực bên ngoài cũng khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh bền vững.

Trong bối cảnh đó, cải cách thể chế và cách thức tương tác giữa cơ quan quản lý với cộng đồng doanh nghiệp đang được xem là một trong những chìa khóa để giải quyết các điểm nghẽn. Tại lễ khởi động Đề án “Lắng nghe để Kiến tạo”, ông Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), cho biết Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành đang tập trung tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực, qua đó phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Tinh thần này được thể hiện thông qua việc triển khai Nghị quyết số 35/NQ-CP, trong đó việc tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp được đưa vào nội dung theo dõi thường xuyên. Thay vì chỉ giải quyết từng vụ việc riêng lẻ, các kiến nghị đang được tập hợp, phân loại và theo dõi tiến độ xử lý.

Ông Bùi Anh Tuấn cho biết hiện nay một nhóm làm việc chung giữa Bộ Tài chính (Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể), Ban Pháp chế VCCI và Văn phòng Chính phủ cập nhật hàng ngày một bảng theo dõi các phản ánh của doanh nghiệp. Nội dung được phân loại từ đơn vị kiến nghị, lĩnh vực phát sinh, điều khoản hoặc luật liên quan đến tiến độ xử lý. Báo cáo được tổng hợp hàng tuần để trình lãnh đạo Chính phủ. “Mọi kiến nghị của doanh nghiệp, dù ở diễn đàn nào hay văn bản nào, đều được ghi nhận và theo dõi xử lý đến cùng”, ông Bùi Anh Tuấn cho biết.
Theo đại diện Bộ Tài chính, điểm đáng chú ý của Đề án “Lắng nghe để Kiến tạo” nằm ở việc đưa sự tham gia của khu vực tư nhân vào quá trình tháo gỡ vướng mắc một cách thường xuyên hơn. Khi phản ánh được theo dõi đến kết quả cuối cùng, cơ chế đối thoại giữa Nhà nước và doanh nghiệp có thể chuyển từ xử lý tình huống sang một phương thức vận hành ổn định hơn.
Tại những lĩnh vực thường phát sinh nhiều phản ánh như thuế, hải quan hay bất động sản, các cuộc đối thoại trực tiếp giữa cơ quan quản lý với hiệp hội và doanh nghiệp cũng được tăng cường. Những nội dung chưa rõ được trao đổi trực tiếp nhằm tìm hướng xử lý, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn.
Ở cấp địa phương, yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh cũng đang được đặt ra mạnh mẽ. Tiến sĩ Cấn Văn Lực cho biết Hà Nội hiện có nhiều cơ chế, chính sách đặc thù và ưu đãi, trong khi công tác quy hoạch giúp doanh nghiệp có thêm cơ sở hình dung định hướng phát triển của Thủ đô trong dài hạn.
Kết quả kinh tế - xã hội sơ bộ 9 tháng đầu năm của Hà Nội đạt mức tăng trưởng khoảng 8,85%, dự báo cả năm có thể đạt khoảng 10% trong khi vẫn kiểm soát tốt lạm phát và các cân đối lớn. Tuy nhiên, theo ông, thành phố vẫn cần tiếp tục cải thiện thủ tục hành chính, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường kết nối giữa hoạt động nghiên cứu với doanh nghiệp. Đặc biệt, việc hỗ trợ khu vực hộ kinh doanh cũng cần được chú trọng bởi đây là một bộ phận có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế và là nguồn lực quan trọng trong quá trình mở rộng khu vực doanh nghiệp.

Một hướng đi khác được đặt ra là tăng cường liên kết vùng. Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 - khu vực miền Bắc, với sự tham gia của 15 tỉnh, thành phố, đại diện cho khu vực đóng góp khoảng 40% GDP cả nước, được kỳ vọng trở thành không gian để doanh nghiệp và chính quyền trao đổi về những vấn đề chung.
Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, diễn đàn là nơi tổng hợp các đề xuất, phản biện chính sách và hiến kế từ nhiều địa phương, trong đó tập trung vào mục tiêu tăng trưởng hai chữ số của Hà Nội và các tỉnh lân cận. Những vấn đề như thủ tục hành chính, mặt bằng sản xuất và khả năng tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ được đặt trong mối quan hệ liên kết thay vì chỉ giải quyết ở phạm vi từng địa phương.


Từ góc độ chính sách, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là tạo thêm các gói hỗ trợ mới mà quan trọng hơn là xây dựng một môi trường để doanh nghiệp có thể chủ động đầu tư và phát triển. Điều này đòi hỏi chính sách phải ổn định, minh bạch, dễ dự đoán; thủ tục cần được đơn giản hóa; nguồn lực công phải tiếp cận công bằng hơn và các chi phí không chính thức cần tiếp tục được kiểm soát.
Cùng với đó, doanh nghiệp phải nâng cao năng lực nội tại, từ quản trị, tài chính đến đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khi doanh nghiệp có năng lực tốt hơn, chính sách hỗ trợ mới có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn hơn thay vì chỉ giúp giải quyết khó khăn trước mắt.
Mục tiêu để kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng vì thế không chỉ phụ thuộc vào tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp. Quan trọng hơn là khả năng biến quy mô thành sức mạnh, biến nguồn lực thành năng suất và biến các cơ chế hỗ trợ thành năng lực cạnh tranh thực tế.
Trong quá trình đó, việc tháo gỡ đồng thời các điểm nghẽn về thể chế, vốn, đất đai, thị trường, chi phí, nhân lực và đổi mới sáng tạo sẽ tạo thêm dư địa để doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Khi môi trường kinh doanh minh bạch và có khả năng dự đoán cao hơn, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để đưa ra các quyết định dài hạn, nâng cao năng suất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Đó cũng là điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân không chỉ tiếp tục lớn lên về số lượng mà từng bước nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và khả năng đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế.
Trần Huyền