


Một trong những nguyên nhân nằm ở phương thức tổ chức sản xuất. Phần lớn diện tích keo hiện được khai thác sau chu kỳ 4-5 năm, chủ yếu phục vụ chế biến dăm gỗ và viên nén. Đây là những sản phẩm có mức độ chế biến và giá trị gia tăng còn hạn chế so với các dòng sản phẩm gỗ kỹ thuật, đồ nội thất và vật liệu phục vụ kiến trúc, xây dựng. Trong khi đó, nguồn gỗ lớn đạt tiêu chuẩn chế biến sâu lại chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, khiến nhiều doanh nghiệp phải sử dụng nguyên liệu nhập khẩu.

Từ thực tế này, yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển ngày càng rõ nét. Theo Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Quốc Trị, ngành lâm nghiệp cần thay đổi tư duy, chuyển trọng tâm từ tăng diện tích và sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, khả năng chống chịu và tính bền vững. Đây cũng là định hướng xuyên suốt được đặt ra tại Hội thảo quốc tế "Phát triển bền vững rừng trồng keo trong bối cảnh thế giới biến đổi năng động" và Diễn đàn Kết nối Nghiên cứu, Công nghiệp và Đổi mới sáng tạo trong Chuỗi giá trị cây keo bền vững - nơi đại diện cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học và người trồng rừng cùng trao đổi về tương lai của chuỗi giá trị keo.




Hiện nay, khoảng 80% diện tích keo của các hộ gia đình được bán non, một phần do áp lực tài chính và lo ngại thiệt hại từ bão lũ, sâu bệnh. Với những hộ có nguồn lực hạn chế, việc giữ rừng thêm nhiều năm đồng nghĩa với kéo dài thời gian thu hồi vốn, trong khi chi phí sinh hoạt và nguy cơ biến động giá gỗ vẫn hiện hữu. Nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp, mục tiêu phát triển rừng gỗ lớn sẽ khó trở thành lựa chọn kinh tế hấp dẫn đối với người dân.

Liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với hợp tác xã và hộ trồng rừng cũng được xác định là giải pháp quan trọng. Thông qua các hợp đồng dài hạn, doanh nghiệp có thể cam kết thu mua gỗ lớn với mức giá hợp lý, đồng thời hỗ trợ người dân áp dụng quy trình quản lý rừng bền vững và đạt chứng chỉ FSC. Ngược lại, việc tổ chức vùng nguyên liệu tập trung sẽ giúp doanh nghiệp chủ động nguồn cung, kiểm soát chất lượng và giảm chi phí thu mua.
Cùng với đổi mới phương thức tổ chức sản xuất, khoa học công nghệ cần được đưa sâu hơn vào thực tiễn. Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị cho biết cơ quan quản lý sẽ tập trung nghiên cứu, chọn tạo các giống keo có năng suất cao, chất lượng gỗ tốt và khả năng chống chịu sâu bệnh, thiên tai; hoàn thiện kỹ thuật thâm canh rừng gỗ lớn, tăng cường chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến các hộ trồng rừng nhỏ. Công tác quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ FSC, truy xuất nguồn gốc gỗ hợp pháp và kết nối vùng nguyên liệu với các nhà máy chế biến sâu cũng cần được đẩy mạnh.
Theo ông Trần Lâm Đồng, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, biến đổi khí hậu cùng các loại sâu bệnh gây hại lá, đốm lá và mục thân đang tạo ra nhiều thách thức đối với sản xuất keo. Trước thực trạng này, Viện xác định sáu hướng nghiên cứu ưu tiên, gồm chọn tạo giống kháng bệnh, chịu bão; đa dạng hóa loài cây theo vùng sinh thái; hoàn thiện kỹ thuật thâm canh rừng gỗ lớn; ứng dụng chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh; phát triển công nghệ chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và hoàn thiện chính sách hỗ trợ rừng trồng bền vững.

Theo định hướng của Hội thảo quốc tế IUFRO Acacia 2026, việc kết nối nghiên cứu với sản xuất cần được triển khai xuyên suốt từ khâu phát triển giống, quản lý rừng đến chế biến và tiêu thụ. Nicholas Hogarth, Giám đốc Chương trình Lâm nghiệp ACIAR, cùng các chuyên gia quốc tế nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu trong giảm thiểu rủi ro, bất định đối với người trồng rừng, doanh nghiệp chế biến, nhà đầu tư và người mua. Việc tăng cường trao đổi giữa giới khoa học và doanh nghiệp sẽ giúp các kết quả nghiên cứu đáp ứng sát hơn nhu cầu thực tế.
Ở khâu chế biến, ông Nguyễn Quốc Khanh nhấn mạnh: “Giá trị cao nhất của cây keo không được tạo ra ở trên khu rừng, mà được tạo ra ở cuối chuỗi cung ứng”. Theo đó, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy kinh doanh, giảm dần sự phụ thuộc vào các sản phẩm sơ chế để chuyển sang sản xuất veneer, plywood, MDF, particle board, gỗ ghép, gỗ kỹ thuật và đồ nội thất có hàm lượng thiết kế cao.

Quá trình chuyển đổi này đòi hỏi sự phối hợp giữa doanh nghiệp chế biến, chuyên gia vật liệu, kiến trúc sư và nhà thiết kế nhằm mở rộng ứng dụng của gỗ keo, đồng thời phát triển sản phẩm phù hợp với yêu cầu của từng phân khúc khách hàng. Khi năng lực công nghệ, thiết kế, xây dựng thương hiệu và tiếp thị quốc tế được cải thiện, giá trị gia tăng sẽ không còn phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng nguyên liệu đầu vào.

Đặc biệt, việc phát triển sản phẩm phải gắn với các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường về chất lượng, nguồn gốc hợp pháp và tính bền vững. Đối với các hộ trồng rừng quy mô nhỏ, liên kết thông qua hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ giúp giảm chi phí tổ chức sản xuất, nâng cao khả năng đáp ứng đơn hàng và tiếp cận các thị trường có tiêu chuẩn cao.
Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, giới khoa học và cộng đồng doanh nghiệp vì vậy có ý nghĩa quyết định đối với quá trình nâng cấp chuỗi giá trị keo. Từ lợi thế về diện tích rừng trồng, Việt Nam cần từng bước xây dựng lợi thế dựa trên chất lượng nguyên liệu, công nghệ chế biến, năng lực thiết kế và khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường. Đây không chỉ là hướng đi để nâng cao sức cạnh tranh của ngành gỗ, hướng tới mục tiêu xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2030, mà còn góp phần cải thiện thu nhập, ổn định sinh kế cho hàng triệu hộ gia đình gắn bó với rừng.
Trần Huyền