Một chính sách mở ra cơ hội, nhưng cơ hội chỉ trở thành tăng trưởng khi dự án được triển khai, vốn được đưa vào sản xuất và sản phẩm tìm được thị trường. Từ Diễn đàn “Doanh nhân tiên phong - Chính phủ kiến tạo trong kỷ nguyên mới” ngày 11/10/2026, yêu cầu nâng chất lượng thực thi được đặt vào trung tâm của hành trình phát triển: tháo gỡ đúng vướng mắc, xác định rõ trách nhiệm và đo hiệu quả bằng những thay đổi doanh nghiệp thực sự nhận được.

Chiều 11/10, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Diễn đàn “Doanh nhân tiên phong - Chính phủ kiến tạo trong kỷ nguyên mới”. Trong chuỗi hoạt động hướng tới Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, cuộc đối thoại đặt ra một vấn đề sát sườn: làm thế nào để những thay đổi về chính sách đi hết hành trình, từ văn bản đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Với doanh nghiệp, hành trình ấy có thể bắt đầu từ một phương án mở rộng nhà máy, một kế hoạch đổi mới dây chuyền hoặc quyết định bước vào thị trường mới. Trên bảng tính, vốn đầu tư, năng lực sản xuất và thời gian hoàn vốn đã được cân nhắc. Nhưng để phương án vận hành, nhà đầu tư còn cần biết khi nào thủ tục hoàn tất, cơ quan nào giải quyết vướng mắc và những điều kiện nào sẽ được áp dụng trong suốt quá trình triển khai.
Cơ hội kinh doanh có thời hạn. Một đơn hàng không chờ vô hạn; một công nghệ không giữ lợi thế mãi; một khoản vốn đã huy động vẫn phát sinh chi phí trong thời gian chưa đưa vào sử dụng. Vì thế, tiến độ xử lý công việc hành chính có thể tác động trực tiếp đến lựa chọn đầu tư, vượt ra ngoài phạm vi của một bộ hồ sơ.
Phát biểu khai mạc, PGS.TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI, đặt vai trò kiến tạo của Chính phủ và tinh thần tiên phong của doanh nhân trong quan hệ gắn bó. Thể chế thuận lợi tạo điều kiện cho đầu tư, còn doanh nghiệp phải đưa điều kiện ấy thành hoạt động kinh tế và giá trị mới. Theo ông, hai phía cần cùng hiện diện để tạo động lực cho một giai đoạn tăng trưởng mới.
Từ mối quan hệ đó, câu chuyện cải cách được đưa về nơi có thể kiểm chứng: doanh nghiệp có triển khai được dự án hay không, có chủ động hơn trong kế hoạch kinh doanh hay không, có đủ niềm tin để đầu tư dài hạn hay không.

Nhận định ấy chỉ ra phần việc còn lại sau khi một chính sách được ban hành. Cải cách cần đi qua hướng dẫn, phối hợp và xử lý từng tình huống cụ thể. Nếu một khâu trong chuỗi đó chậm lại, lợi ích mà chính sách hướng tới cũng có thể đến với doanh nghiệp muộn hơn.

Trong hoạt động kinh doanh, có những chi phí nhìn thấy ngay trên chứng từ, cũng có những chi phí bộc lộ khi kế hoạch bị lùi lại. Doanh nghiệp có thể tính được tiền mua máy móc, thuê mặt bằng, trả lương; nhưng việc chưa xác định được ngày bắt đầu sản xuất khiến cả phương án sử dụng vốn trở nên khó chủ động.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, Chủ tịch VCCI đề cập những rủi ro khi quy định thay đổi mà thiếu thời gian thích ứng, văn bản chưa thống nhất hoặc thời hạn giải quyết thủ tục khó dự liệu. Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp tháng 7/2026, gần 900 phản ánh đã được VCCI tổng hợp thành 53 nhóm vướng mắc thuộc 10 lĩnh vực.
Quy mô phản ánh cho thấy nhu cầu cải cách bao phủ nhiều khâu trong môi trường kinh doanh. Đằng sau một kiến nghị về thủ tục có thể là yêu cầu làm rõ cách áp dụng chính sách. Đằng sau đề nghị rút ngắn thời gian xử lý có thể là nỗi lo về dòng tiền, tiến độ giao hàng và cam kết với đối tác.
Trong bối cảnh đó, tính ổn định và khả năng dự báo trở thành nguồn lực cho đầu tư. Khi biết rõ điều kiện phải đáp ứng, doanh nghiệp có thể chuẩn bị hồ sơ, nhân lực và tài chính phù hợp. Khi xác định được lịch trình xử lý, họ có cơ sở để sắp xếp kế hoạch sản xuất. Khi quy định được áp dụng thống nhất, rủi ro phải điều chỉnh phương án vì cách hiểu khác nhau sẽ giảm.
Những chuyển động về cải cách thủ tục đã được báo cáo tại diễn đàn. Ông Nguyễn Xuân Thọ, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể, Bộ Tài chính, cho biết đến ngày 14/8/2026, Bộ đã cắt giảm, đơn giản hóa 837 trong số 962 thủ tục thuộc phạm vi rà soát, đạt 87%. Tổng thời gian giải quyết trong phạm vi được báo cáo giảm 54,88%.

Cũng theo thông tin ông Thọ trình bày, tổng quy mô các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí và lệ phí trong chín tháng đầu năm 2026 khoảng 245.600 tỷ đồng; gồm khoảng 185.600 tỷ đồng miễn, giảm và 60.000 tỷ đồng gia hạn.
Các số liệu phản ánh nỗ lực hỗ trợ, đồng thời gợi mở yêu cầu đánh giá sát hoạt động doanh nghiệp. Việc miễn, giảm và gia hạn có cơ chế tác động khác nhau; hiệu quả cần được nhìn cùng khả năng tiếp cận, thời điểm hỗ trợ và nhu cầu của người thụ hưởng. Tương tự, kết quả cắt giảm thủ tục cần tiếp tục được kiểm chứng qua thời gian xử lý trên thực tế.
Một quy trình được rút ngắn có thể giúp khoản vốn sớm đi vào sản xuất. Một hướng dẫn thống nhất có thể giúp doanh nghiệp tránh sửa hồ sơ nhiều lần. Những thay đổi như vậy, khi được duy trì rộng khắp, tạo điều kiện để doanh nghiệp dành thêm nguồn lực cho sản phẩm, công nghệ và thị trường.

Một cuộc đối thoại có thể kết thúc khi chương trình làm việc khép lại, nhưng vướng mắc của doanh nghiệp chỉ kết thúc khi có phương án xử lý khả thi. Khoảng cách giữa hai thời điểm ấy là nơi trách nhiệm thực thi cần được xác định cụ thể.
Theo Báo Điện tử Chính phủ, 146 trong số 202 nhóm kiến nghị của doanh nghiệp đã được các bộ, cơ quan trả lời, giải quyết dứt điểm, tương đương khoảng 72%. Các kiến nghị còn lại đang được rà soát, xác định hướng xử lý; những nội dung liên quan sửa đổi pháp luật cần tiếp tục nghiên cứu và thực hiện theo trình tự quy định. [5]
Con số này cần được đọc đúng phạm vi. Đó là tình hình xử lý đối với 202 nhóm kiến nghị được báo cáo, không phải tỷ lệ toàn bộ khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp đã được tháo gỡ. Với từng trường hợp, hiệu quả cuối cùng vẫn phải được kiểm chứng bằng khả năng tiếp tục đầu tư, sản xuất hoặc tiếp cận nguồn lực.
Ngày 17/9/2026, Bộ Tài chính đã làm việc với VCCI cùng 20 hiệp hội, doanh nghiệp để rà soát những vấn đề còn vướng sau khi nhận văn bản trả lời của cơ quan chức năng. [4] Việc tiếp tục đối thoại sau phản hồi cho thấy nhu cầu theo dõi đến kết quả thực tế, bởi một văn bản giải thích có thể chưa đủ để xử lý hết trở ngại trong quá trình triển khai.
Từ góc độ tổ chức thực hiện, mỗi kiến nghị cần được nhận diện đúng nguyên nhân. Nếu vướng ở cách hiểu, cần hướng dẫn thống nhất. Nếu vướng ở phối hợp, cần đầu mối có trách nhiệm điều phối. Nếu vướng ở quy định, cần xác định cơ quan và lộ trình xem xét sửa đổi. Việc phân loại đúng giúp doanh nghiệp biết vấn đề đang được xử lý ở đâu và còn cần những bước nào.
Mạch đối thoại ấy được tiếp nối trong lễ kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam và trao danh hiệu “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu - Cúp Thánh Gióng” diễn ra tối 11/10 tại Hà Nội. Tại sự kiện này, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh trách nhiệm theo dõi, xử lý kiến nghị đến kết quả cụ thể.

Yêu cầu này đặt kết quả đầu ra vào trung tâm của điều hành. Doanh nghiệp cần nhận được thông tin về thời hạn xử lý, cơ quan chịu trách nhiệm và phương án thực hiện. Với những nội dung chưa thể giải quyết ngay, sự minh bạch về tiến độ cũng giúp họ điều chỉnh kế hoạch, thay vì tiếp tục chờ đợi trong tình trạng thiếu thông tin.
Ở vai trò kết nối, VCCI định hướng tăng cường phân tích kiến nghị trên cơ sở dữ liệu, bằng chứng và theo dõi kết quả thực hiện. [2] Khi phản ánh được tổng hợp có hệ thống, những khó khăn lặp lại có thể trở thành căn cứ nhận diện vấn đề chung, giúp việc sửa đổi chính sách đi sát nhu cầu thực tế hơn.

Tháo gỡ rào cản tạo thêm dư địa phát triển, nhưng để tận dụng dư địa ấy, doanh nghiệp cần năng lực thực hiện. Một thủ tục được giải quyết nhanh hơn sẽ mở đường cho đầu tư; việc đầu tư có tạo ra năng suất, chất lượng và thị trường mới hay không còn phụ thuộc vào quản trị và lựa chọn của doanh nghiệp.
Tại diễn đàn, ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, phân tích những chuyển biến trong tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Đồng thời, ông đặt yêu cầu nâng chất lượng quản trị và tăng liên kết đối với cộng đồng doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp lớn cần hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ hơn trong chuỗi giá trị.

Sự tự tin cần có nền tảng trong hoạt động của từng doanh nghiệp. Hồ sơ tài chính minh bạch, khả năng quản lý dòng tiền, quy trình kiểm soát chất lượng và đội ngũ nhân sự phù hợp sẽ giúp một phương án đầu tư trở nên thuyết phục hơn. Khi cơ hội thị trường đến, doanh nghiệp có hệ thống quản trị tốt cũng có điều kiện phản ứng nhanh và kiểm soát rủi ro.
Ở góc độ mô hình phát triển, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhấn mạnh việc làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, phát triển động lực dựa trên công nghệ và tăng liên kết trong hệ sinh thái doanh nghiệp. Theo định hướng được ông trình bày, doanh nghiệp lớn cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp và hợp tác xã tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. [8]
Một chuỗi cung ứng có sức cạnh tranh cần nhiều mắt xích cùng đáp ứng tiêu chuẩn. Doanh nghiệp đầu chuỗi có thể mở thị trường và đặt yêu cầu chất lượng; nhà cung ứng cần nâng năng lực giao hàng, quản trị và truy xuất; tổ chức nghiên cứu có thể hỗ trợ giải quyết bài toán kỹ thuật. Liên kết vì thế tạo cơ hội trưởng thành cho doanh nghiệp, đồng thời đòi hỏi mỗi bên thực hiện cam kết.
Trong đổi mới sáng tạo, TS Nguyễn Đắc Bình Minh, Phó Viện trưởng Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, đề cao vai trò trung tâm của doanh nghiệp và giá trị thực tiễn khi đưa nghiên cứu vào thị trường. [9]
Từ góc nhìn đó, đầu tư công nghệ cần bắt đầu ở một nhu cầu cụ thể: giảm tỷ lệ sản phẩm lỗi, tiết kiệm nguyên liệu, rút ngắn thời gian xử lý đơn hàng hoặc tạo sản phẩm mới. Việc xác định đúng bài toán giúp doanh nghiệp lựa chọn giải pháp phù hợp, đo được hiệu quả và tránh đầu tư vượt quá khả năng vận hành.
Tinh thần tiên phong cũng được thể hiện trong những công việc bền bỉ như nâng chuẩn sản xuất, đào tạo lao động, cải thiện hệ thống dữ liệu và phát triển nhà cung ứng. Khi được thực hiện liên tục, chúng tạo năng lực để doanh nghiệp tận dụng cơ hội chính sách và đáp ứng yêu cầu cao hơn của thị trường.

Nhìn từ những trao đổi tại diễn đàn, gỡ điểm nghẽn thực thi là quá trình làm cho các quyết định phát triển vận hành thông suốt. Một chính sách có thể mở đầu bằng thay đổi trong quy định, nhưng hiệu quả cần được nhìn thấy ở nơi vốn được sử dụng, công việc được tạo ra và giá trị được hình thành.
Thời gian là một thước đo gần với doanh nghiệp. Hồ sơ được giải quyết đúng hạn giúp kế hoạch đầu tư có cơ sở triển khai. Chi phí là một thước đo khác: số lần bổ sung giấy tờ, thời gian đi lại, nguồn lực dành cho tuân thủ đều tác động đến khả năng tập trung cho sản xuất. Khả năng dự báo kết nối hai yếu tố đó, giúp doanh nghiệp biết điều kiện nào cần đáp ứng và khi nào có thể tiến hành bước tiếp theo.
Để đo được thay đổi, cần đặt trải nghiệm thực tế bên cạnh kết quả rà soát chính sách. Một thủ tục đã được đơn giản hóa cần có hướng dẫn tương ứng. Một dịch vụ được đưa lên môi trường số cần giúp giảm những bước xử lý thực tế. Một kiến nghị đã có phương án giải quyết cần được kiểm tra xem doanh nghiệp có thực hiện được phương án ấy hay chưa.
Công việc này đòi hỏi phối hợp giữa cơ quan trung ương, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp. Cơ quan hoạch định cần thông tin về những tình huống phát sinh; đơn vị thực thi cần quy định và hướng dẫn rõ ràng; doanh nghiệp cần phản ánh cụ thể, có bằng chứng. Khi dòng thông tin được duy trì, khó khăn mới có thể được nhận diện sớm và xử lý trước khi kéo dài thành trở ngại lớn.
Thành công của một mô hình cải cách cũng cần được chuyển thành kinh nghiệm có thể áp dụng rộng hơn. Những quy trình giúp tiết kiệm thời gian, những cơ chế phối hợp giải quyết được vướng mắc cần được xem xét về điều kiện thực hiện, trách nhiệm và khả năng nhân rộng. Doanh nghiệp ở các địa bàn khác nhau đều cần tiếp cận môi trường kinh doanh minh bạch và nhất quán.
Ở phía doanh nghiệp, niềm tin đầu tư phải đi cùng trách nhiệm tuân thủ, sử dụng vốn hiệu quả và chủ động nâng năng lực. Khi những điều kiện thuận lợi được chuyển thành năng suất cao hơn, sản phẩm tốt hơn và chuỗi liên kết rộng hơn, cải cách mới tạo được tác động lâu dài cho nền kinh tế.
Từ cuộc đối thoại ngày 11/10, yêu cầu phát triển trở về những việc cụ thể: một vướng mắc được xác định đúng, một đầu mối nhận trách nhiệm, một thời hạn được thực hiện, một doanh nghiệp có thể tiếp tục dự án. Những kết quả ấy góp phần hình thành niềm tin để nhà đầu tư lên kế hoạch cho chặng đường dài hơn.
Phía sau một bộ hồ sơ là kế hoạch sử dụng vốn. Phía sau một dự án là cơ hội việc làm và thị trường. Khi khâu thực thi theo kịp tinh thần kiến tạo, những cơ hội đó có điều kiện trở thành hoạt động kinh tế, tạo nền tảng cho doanh nghiệp tăng trưởng.
Hoàng Việt